Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CHỖ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách đất đai 1. Khái niệm đất đai Tại Hội nghị quốc tế về môi trường tại Rio de Janerio, Brazil, 1993 đã khẳng định: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại”.
Theo khái niệm trên, đất đai có một số đặc điểm như: Đất đai có vị trí cố định; Đất đai có hạn về diện tích; Tính lâu bền; Đất đai có tính đa dạng, phong phú tùy thuộc vào mục đích sử dụng đất đai và phù hợp với từng vùng địa lý. Chính sách công Thông thường, khi hiểu cụm từ “chính sách” mà nó có vai trò, chức năng của “khu vực công” thì sẽ được gọi là chính sách công; vì vậy, mỗi nhà nghiên cứu trong thực tế có những định nghĩa khác nhau về chính sách công với chức năng, vai trò của nó cũng có sự khác biệt. Ở Việt Nam, tác giả Phạm Quý Thọ cho rằng: “Chính sách công là những định hướng mục tiêu và biện pháp hành động, được Nhà nước lựa chọn và ban hành như một công cụ quản lí của Nhà nước, nhằm giải quyết các vấn đề công cộng được lựa chọn và được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền.” 15 Luan van Tác giả Hồ Việt Hạnh đưa ra khái niệm về chính sách công như sau: “Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng” [13]. Tác giả Nguyễn Khắc Bình đưa ra khái niệm về chính sách công như sau: ”Chính sách công là hoạt động mà chính phủ chọn thực hiện hoặc không thực hiện để điều hòa các xung đột trong xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định”[3].
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm về chính sách công của tác giả Nguyễn Khắc Bình để làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại thành phố Hà Nội. Thực hiện chính sách công Thực hiện được đưa ra như là việc mang lại quyết định cơ bản chính sách, thông thường tập hợp nhiều trạng thái nhưng cần hình thức quản lí trọng tâm, luật pháp. Xác định những hành vi bằng việc hướng tới mục tiêu thông qua việc đưa ra quyết định công, thực hiện chính sách là sự phát triển giữa những gì chính phủ đưa ra tiếp theo là chương trình hành động. Do đó, tổ chức thực hiện chính sách là tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lí nhà nước và cũng là để đạt mục tiêu đề ra của chính sách.
Theo tác giả Nguyễn Khắc Bình đã định nghĩa về thực hiện chính sách công như sau: Thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lí nhằm đạt được mục tiêu định hướng của Nhà nước. Khái niệm thực hiện chính sách đất đai Các quan hệ đất đai là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao gồm: quan hệ về sở hữu đất đai, quan hệ về sử dụng đất đai, quan hệ về phân phối các sản phẩm do sử dụng đất mà có. 16 Luan van Bộ luật Dân sự quy định “Quyền sở hữu bao gồm quyển chiêm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật” [29]. Từ sự phân tích các hoạt động thực hiện chính sách quản lý nhà nước đối với đất đai như trên, Tiến sĩ Phạm Khắc Thái Sơn đã đưa ra khái niệm thực hiện chính sách về đất đai như sau: Thực hiện chính sách đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai.
Vai trò chính sách đất đai Đất đai là tài nguyên quan trọng, không thể thay thế được, chính vì vậy, vai trò thực hiện quản lý nhà nước về đất đai thể hiện ở các nội dung sau đây: Một là, đảm bảo sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. Hai là, bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng của các đối tượng sử dụng đất đai trong quan hệ về đất đai thông qua việc tổ chức thực hiện chính sách pháp luật về đất đai. Ba là, nâng cao khả năng sinh lời của đất để góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội của địa phương và bảo vệ môi trường thông qua việc thực hiện các chính sách về đất dai như chính sách giá đất, chính sách về thu hồi đất phục vụ công tác giải phóng mặt bằng các dự án, chính sách thuế, chính sách đầu tư,. Bốn là, thông qua việc giám sát, kiểm tra quản lý và sử dụng đất đai, giải quyết tranh chấp về đất đai cơ quan quản lý sẽ nắm bắt tình hình biến động về sử dụng từng loại đất, đối tượng sử dụng đất.
Nguyên tắc chính sách về đất đai Trong quản lý nhà nước về đất đai cần chú ý những nguyên tắc sau: a. Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của Nhà nước 17 Luan van Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản của toàn dân. Vấn đề này được quy định tại Điều 4, Luật Đất đai năm 2013 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” [15] b.
Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người trực tiếp sử dụng Theo Luật dân sự thì quyền sở hữu đất đai bao gồm quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai của chủ sở hữu đất đai. Quyền sử dụng đất đai là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai của chủ sở hữu đất đai hoặc chủ sử dụng đất đai khi được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dựng.Vấn đề này được thể hiện ở Điều 17, Luật Đất đai 2013 Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua các hình thức: Giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất; cho thuê đất; Công nhận quyền sử dụng đất. Tiết kiệm và hiệu quả Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc của quản lý kinh tế. Thực chất quản lý đất đai cũng là một dạng của quản lý kinh tế nên cũng phải tuân theo nguyên tắc này.
Tiết kiệm là cơ sở, là nguồn gồc của hiệu quả. Nguyên tắc này trong quản lý đất đai được thể hiện bằng những việc sau: - Xây dựng các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tốt, có tính khả thi cao; - Quản lý và giám sát tốt việc thực hiện các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. 18 Luan van Có như vậy, việc quản lý nhà nước về đất đai mới có thể phục vụ tốt cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo việc sử dụng tiết kiệm đất đai nhất mà vẫn đạt được mục đích đề ra. Khái niệm đồng bào dân tộc thiểu số Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ lệ thấp trong tổng dân số cả nước, đa số các dân tộc thiểu số đều tập trung sinh sống ở những khu vực giáp biên giới, vùng sâu vùng xa, có điều kiện kinh tế khó khăn, vấn đề giáo dục, chăm sóc sức khỏe người dân còn nhiều hạn chế.
Ngoài ra, cộng đồng các dân tộc thiểu số ít người thường khó hòa nhập do họ sử dụng ngôn ngữ riêng, nhận thức còn hạn chế, có nhiều phong tục tập quán cổ hủ. Ở nước ta thì chỉ có dân tộc Kinh được coi là dân tộc đa số, chiếm tỷ lệ dân số lớn trong tổng số dân số cả nước, còn 53 dân tộc còn lại đều được xếp vào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, hiện nay số dân của một số dân tộc ngày càng tăng lên như Tày, Thái, Mường….đồng thời địa bàn sinh sống đã tản ra, trình độ văn hóa, kinh tế phát triển mạnh. Do đặc điểm của cộng đồng dân tộc thiểu số mà trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm chú trọng đến việc phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục tại địa bàn các khu vực có dân tộc thiểu số sinh sống, góp phần tạo lập sự bình đẳng, phát triển đồng đều trên cả nước.
Theo định nghĩa tại Khoản 2, Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc thì “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vậy, thế nào là dân tộc thiểu số và dân tộc đa số, như chúng ta đã biết “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia, đó là dân tộc Kinh với 85,7% dân số cả nước. Các dân tộc khác đều là dân tộc thiểu số. 19 Luan van Trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc, cụm từ “Dân tộc thiểu số” được thống nhất sử dụng trong hệ thống các văn bản pháp qui, các văn bản hành chính và không sử dụng khái niệm dân tộc bản địa.
Đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn huyện Cư Jút Theo thống kê số liệu của phòng Dân tộc hiện có khoảng trên 48.900 đồng bào dân tộc thiểu số thuộc 22 dân tộc đang sinh sống trên địa bàn huyện Cư Jut.