Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) đóng vai trò là động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và duy trì ổn định xã hội tại Việt Nam. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, vào năm 2012, cả nước có 286.468 doanh nghiệp chính thức thuộc khối SMEs, chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Khối doanh nghiệp này đóng góp xấp xỉ 40% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tạo ra việc làm cho 51% lực lượng lao động cả nước mỗi năm. Mặc dù sở hữu quy mô áp đảo, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam phải đối mặt với nhiều rào cản nghiêm trọng về năng lực cạnh tranh. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới có xu hướng chững lại, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng hoạt động trong năm 2012 tăng tới 11,9%, tương đương với hơn 60.000 đơn vị rút lui khỏi thị trường.

Nguyên nhân căn bản xuất phát từ việc phần lớn SMEs Việt Nam có năng suất lao động thấp hơn đáng kể so với khu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hầu hết các đơn vị này thiếu hụt nguồn vốn tài chính, mặt bằng sản xuất, công nghệ lạc hậu và hạn chế nghiêm trọng về chi phí dành cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Trong bối cảnh nguồn lực hữu hình bị hạn chế, vốn xã hội (social capital) nổi lên như một nguồn lực phi chính thức nhưng mang tính quyết định, giúp doanh nghiệp tiếp cận thông tin, chia sẻ tri thức và giảm thiểu chi phí giao dịch.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xác định mức độ tác động của vốn xã hội đối với hoạt động đổi mới sản phẩm của các SMEs tại Việt Nam. Đề tài tập trung phân tích nguồn dữ liệu khảo sát thực nghiệm năm 2013 trên phạm vi 10 tỉnh, thành phố trọng điểm gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hà Tây, Phú Thọ, Nghệ An, Quảng Nam, Khánh Hòa, Lâm Đồng và Long An. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để lượng hóa xác suất đổi mới công nghệ, chỉ ra rằng việc tham gia mạng lưới kinh doanh có thể nâng cao xác suất cải tiến sản phẩm lên tới 14,8%, từ đó hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách và chủ doanh nghiệp thiết lập chiến lược phát triển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên sự tích hợp giữa lý thuyết vốn xã hội và lý thuyết đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Về mặt lý thuyết vốn xã hội, nghiên cứu kế thừa quan điểm của Portes (1998), Putnam (1993) và Nahapiet & Ghoshal (1998), xác định vốn xã hội là tập hợp các mối quan hệ mạng lưới cho phép cá nhân và tổ chức tiếp cận nguồn lực, tri thức của các thành viên khác. Adler & Kwon (2000) cùng Stam et al. (2014) nhấn mạnh rằng cấu trúc mạng lưới gồm cả mối liên kết mạnh (gia đình, bạn bè) và mối liên kết yếu (đối tác kinh doanh, hiệp hội) giúp doanh nghiệp gia tăng lợi thế cạnh tranh dài hạn.

Về mặt lý thuyết đổi mới sáng tạo, mô hình dựa trên nền tảng của Schumpeter (1942), Drucker (1985) và cẩm nang Oslo của OECD (2005). Đổi mới sản phẩm được định nghĩa là việc phát triển sản phẩm mới hoàn toàn hoặc cải tiến đáng kể các tính năng, thông số kỹ thuật, thiết kế của sản phẩm hiện hữu. Dưới góc độ kinh tế học vi mô, mô hình đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) của Samuelson (1967) minh chứng rằng tiến bộ công nghệ và đổi mới sản phẩm sẽ dịch chuyển đường PPF sang bên phải, tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất và gia tăng tổng sản lượng mà không cần gia tăng vô hạn nguồn lực đầu vào.

Khung phân tích của đề tài xác lập 4 nhóm khái niệm chính:

  • Vốn xã hội (Social Capital): Đo lường thông qua việc tham gia hiệp hội kinh doanh, quy mô mạng lưới liên kết thường xuyên và số lượt nhận hỗ trợ trong quá trình vận hành.
  • Đổi mới sản phẩm (Product Innovation): Bao gồm hai hình thức là cải tiến sản phẩm hiện có và ứng dụng quy trình công nghệ mới để tạo ra sản phẩm.
  • Đặc điểm chủ doanh nghiệp: Bao gồm giới tính, độ tuổi và trình độ học vấn.
  • Đặc điểm nội tại của doanh nghiệp: Bao gồm tuổi đời doanh nghiệp, quy mô lực lượng lao động, hoạt động xuất khẩu và mức độ cạnh tranh thị trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khai thác bộ dữ liệu điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam năm 2013 (Vietnam SME Survey 2013), được thực hiện dưới sự phối hợp của Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA) và Nhóm Nghiên cứu Kinh tế Phát triển (DERG) thuộc Đại học Copenhagen, với sự tài trợ từ Chương trình Hỗ trợ Ngành Doanh nghiệp (BSPS) của Đan Mạch. Quy trình làm sạch dữ liệu xác lập cỡ mẫu hoàn chỉnh gồm 2.341 quan sát hợp lệ từ tổng số 2.461 doanh nghiệp được điều tra. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được triển khai tại 10 tỉnh thành đại diện cho cả ba miền Bắc, Trung, Nam.

Về cơ cấu hình thức sở hữu, mẫu khảo sát phản ánh đúng thực tế kinh tế Việt Nam với 63,1% là hộ kinh doanh cá thể (1.553 đơn vị), 22,2% là công ty trách nhiệm hữu hạn (546 đơn vị), 8,0% là doanh nghiệp tư nhân (198 đơn vị), 4,4% là công ty cổ phần (109 đơn vị) và 2,2% là hợp tác xã (55 đơn vị). Xét theo ngành nghề, ngành Chế biến thực phẩm và đồ uống chiếm tỷ trọng lớn nhất với 31%, tiếp theo là Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn chiếm 17%, Chế biến gỗ chiếm 10%, Sản xuất đồ nội thất chiếm 8%, Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic chiếm 5%.

Do biến phụ thuộc "hoạt động đổi mới" là một biến định danh danh nghĩa đa trạng thái (Nominal Categorical Variable) gồm 4 lựa chọn loại trừ lẫn nhau: (0) Không đổi mới, (1) Chỉ cải tiến sản phẩm hiện hữu, (2) Chỉ ứng dụng quy trình mới, (3) Thực hiện đồng thời cả cải tiến sản phẩm và quy trình mới; nên phương pháp bình phương bé nhất thông thường (OLS) không thể áp dụng vì vi phạm các giả định phân phối. Tác giả lựa chọn mô hình Logit đa thức (Multinomial Logit Model - MNL) để ước lượng đồng thời xác suất xảy ra của từng phương án lựa chọn thông qua phương pháp ước lượng hợp lý cực đại (Maximum Likelihood Estimation). Hiệu ứng biên (Marginal Effects) được tính toán nhằm lượng hóa mức độ thay đổi xác suất tuyệt đối của từng quyết định đổi mới khi các biến độc lập thay đổi một đơn vị trong điều kiện các yếu tố khác không đổi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thống kê mô tả và hồi quy mô hình Logit đa thức trên 2.341 doanh nghiệp đã chỉ ra 4 phát hiện thực chứng quan trọng:

Thứ nhất, mức độ đổi mới sáng tạo của SMEs Việt Nam còn ở mức rất thấp và có chiều hướng sụt giảm. Trong tổng số 2.341 quan sát, có tới 1.866 doanh nghiệp (chiếm 79,7%) hoàn toàn không thực hiện bất kỳ hoạt động đổi mới nào trong vòng 2 năm trước thời điểm điều tra. Số lượng doanh nghiệp có cải tiến sản phẩm hiện hữu là 409 đơn vị (chiếm 17,6%), giảm mạnh so với mức 24,9% (602 doanh nghiệp) của kỳ điều tra năm 2011. Số lượng doanh nghiệp ứng dụng quy trình sản xuất mới chỉ đạt 155 đơn vị (chiếm 6,6%) và chỉ có 85 doanh nghiệp (chiếm 3,6%) thực hiện đồng thời cả cải tiến sản phẩm lẫn đổi mới quy trình công nghệ.

Thứ hai, việc tham gia vào mạng lưới kinh doanh chính thức tạo ra lực đẩy mạnh mẽ nhất cho hoạt động đổi mới. Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia ít nhất một hiệp hội kinh doanh chỉ đạt 8,27% trên toàn mẫu, nhưng ước lượng hiệu ứng biên cho thấy các thành viên hiệp hội có xác suất cải tiến sản phẩm cao hơn 14,8% so với nhóm không tham gia (mức ý nghĩa thống kê 1%). Đồng thời, việc gia nhập hiệp hội làm tăng 4,0% xác suất doanh nghiệp thực hiện cả hai hình thức đổi mới. Bên cạnh đó, biến quy mô mạng lưới (với số lượng liên hệ thường xuyên trung bình là 37 người và tối đa lên tới 1.437 người) có tác động dương có ý nghĩa thống kê đến việc thúc đẩy ứng dụng quy trình công nghệ mới.

Thứ ba, tham gia thị trường xuất khẩu và đối mặt với áp lực cạnh tranh là động lực thúc đẩy đổi mới sản phẩm. Mặc dù chỉ có 6,0% số doanh nghiệp trong mẫu có hàng hóa xuất khẩu, nhưng nhóm này có xác suất cải tiến sản phẩm cao hơn 9,0% so với nhóm chỉ tiêu thụ nội địa. Về áp lực thị trường, có tới 87,76% chủ doanh nghiệp thừa nhận đang đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt. Môi trường cạnh tranh gay gắt làm tăng 7,5% xác suất doanh nghiệp tiến hành cải tiến sản phẩm hiện hữu và tăng 2,0% xác suất thực hiện đồng thời hai loại hình đổi mới.

Thứ tư, các đặc tính nhân khẩu học của chủ doanh nghiệp và quy mô lao động chi phối đáng kể đến hành vi đổi mới. Doanh nghiệp do nam giới làm chủ (chiếm 59,73% mẫu) có xác suất cải tiến sản phẩm cao hơn 3,0% so với nữ giới. Độ tuổi trung bình của chủ doanh nghiệp là 46,4 tuổi (dao động từ 19 đến 94 tuổi), và độ tuổi này có mối tương quan nghịch với việc ứng dụng quy trình mới (mỗi năm tăng thêm về tuổi đời của người quản lý làm giảm 0,2% xác suất đổi mới quy trình). Quy mô lao động bình quân là 15 người (dao động từ 1 đến 1.700 lao động); khi quy mô nhân sự tăng thêm 100 lao động, xác suất cải tiến sản phẩm của doanh nghiệp sẽ tăng thêm 2,0%.

Thảo luận kết quả

Các kết quả thực nghiệm phản ánh sâu sắc bản chất vận hành của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam. Vốn xã hội đóng vai trò như một cơ chế bù đắp hữu hiệu cho sự thiếu thốn về nguồn vốn tài chính và hạ tầng nghiên cứu kỹ thuật. Khi tham gia vào các hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp không chỉ nhận được thông tin cập nhật về các quy định pháp luật mới mà còn xây dựng được niềm tin tương hỗ, tiếp cận các kênh thông tin phi chính thức về công nghệ, nguồn nguyên liệu và thị hiếu tiêu dùng, từ đó giảm thiểu chi phí tìm kiếm thông tin và hạ thấp rủi ro thất bại khi tung ra sản phẩm mới.

Khi so sánh với các tài liệu quốc tế, phát hiện về tác động tích cực của mạng lưới quan hệ hoàn toàn đồng thuận với nghiên cứu của Stam et al. (2014) và Molina-Morales (2010). Sự vượt trội của yếu tố tham gia hiệp hội so với biến số hỗ trợ kỹ thuật đơn thuần (vốn không đạt ý nghĩa thống kê trong mô hình với giá trị trung bình 203 lượt) chứng minh rằng chất lượng và tính chiến lược của các mối quan hệ có giá trị cao hơn tần suất hỗ trợ sự vụ ngắn hạn.

Tác động mạnh mẽ của biến xuất khẩu phù hợp với lý thuyết "học hỏi qua xuất khẩu" (learning by exporting) của Teece (1986) và Braga & Willmore (1991). Khi vươn ra thị trường quốc tế, SMEs buộc phải nâng chuẩn chất lượng để vượt qua các rào cản kỹ thuật và cạnh tranh với các đối thủ toàn cầu, từ đó nhận được sự chuyển giao công nghệ từ khách hàng ngoại quốc. Hiện tượng người quản lý trẻ tuổi nhạy bén hơn trong việc đổi mới quy trình sản xuất củng cố quan điểm của Mascitelli (2000), bởi các lãnh đạo trẻ thường có thời gian gắn bó dài hơn, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm và tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật số nhanh hơn so với thế hệ quản lý lớn tuổi. Dữ liệu thực nghiệm này có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ phân tán giữa quy mô mạng lưới và xác suất đổi mới, kết hợp bảng ma trận so sánh hiệu ứng biên giữa các nhóm hình thức sở hữu doanh nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong khối SMEs:

Thứ nhất, Bộ Công Thương phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) xây dựng và phát triển hệ sinh thái mạng lưới hiệp hội doanh nghiệp chuyên ngành. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ SMEs tham gia các hiệp hội kinh doanh chính thức từ mức 8,27% hiện nay lên ít nhất 25% vào năm 2030. Các hiệp hội cần chuyển đổi mô hình hoạt động từ hình thức hành chính sang cung cấp dịch vụ kết nối chuỗi giá trị, định kỳ tổ chức từ 30 đến 50 hội chợ giao thương, hội thảo chuyển giao công nghệ và không gian làm việc chung chuyên biệt cho từng ngành sản xuất chủ lực mỗi năm.

Thứ hai, Cục Xúc tiến Thương mại và Ngân hàng Nhà nước thiết lập gói chính sách đòn bẩy hỗ trợ SMEs tham gia chuỗi cung ứng xuất khẩu. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ SMEs có sản phẩm xuất khẩu trực tiếp từ 6,0% lên 15% trong giai đoạn 2026-2030. Chính sách cần tập trung vào việc hỗ trợ 50% chi phí đăng ký chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng quốc tế (như ISO, HACCP, CE), đồng thời cung cấp các gói tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp hơn từ 1,5% đến 2,0% so với thị trường dành riêng cho các dự án đổi mới công nghệ phục vụ đơn hàng xuất khẩu.

Thứ ba, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia hoàn thiện thể chế thị trường nhằm duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và minh bạch. Cơ quan chức năng cần kiên quyết dỡ bỏ các rào cản gia nhập thị trường không cần thiết, cắt giảm ít nhất 30% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính và kiểm soát chặt chẽ tình trạng độc quyền nhóm. Môi trường cạnh tranh công bằng sẽ là đòn bẩy kích hoạt 87,76% số doanh nghiệp đang chịu áp lực cạnh tranh chủ động đầu tư cải tiến mẫu mã và tính năng sản phẩm nhằm duy trì thị phần.

Thứ tư, bản thân các chủ doanh nghiệp SMEs cần chủ động chuyển đổi tư duy quản trị, tái cấu trúc nguồn nhân lực và phát triển mạng lưới liên kết mở. Chủ doanh nghiệp cần dành tối thiểu 3% đến 5% doanh thu hàng năm cho các hoạt động đào tạo nâng cao tay nghề người lao động và nghiên cứu thị trường. Đồng thời, người quản lý cần mở rộng quy mô mạng lưới liên hệ thường xuyên từ mức bình quân 37 người lên trên 70 đối tác trong vòng 12 đến 24 tháng, chủ động kết nối với các trường đại học, viện nghiên cứu và đối tác cung ứng để khai thác tri thức bên ngoài.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản trị kinh doanh: Đề tài cung cấp khung phương pháp luận chuẩn xác về việc ứng dụng mô hình Logit đa thức (Multinomial Logit) để giải quyết bài toán biến phụ thuộc rời rạc đa trạng thái, đồng thời là tài liệu tham khảo mẫu mực về kỹ thuật xử lý dữ liệu vi mô cấp doanh nghiệp với quy mô hơn 2.300 quan sát.
  • Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, VCCI: Nghiên cứu cung cấp các bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về vai trò của vốn xã hội và xuất khẩu, giúp các chuyên viên hoạch định xây dựng Đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới sáng tạo và thiết kế các chương trình can thiệp có mục tiêu trúng đích.
  • Chủ sở hữu, giám đốc điều hành và nhà quản trị tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Tài liệu giúp các nhà lãnh đạo nhận thức rõ tầm quan trọng của tài sản quan hệ vô hình, từ đó tái định hình chiến lược phân bổ nguồn lực, tích cực tham gia các hiệp hội doanh nghiệp và đẩy mạnh liên kết đối tác để tìm kiếm ý tưởng cải tiến sản phẩm.
  • Các tổ chức quốc tế và định chế tài chính phát triển (như Danida, Ngân hàng Thế giới, ADB): Luận văn là nguồn tài liệu đánh giá độc lập về tác động của các chương trình hỗ trợ khu vực tư nhân (như chương trình BSPS), hỗ trợ thiết kế các dự án viện trợ kỹ thuật và tài trợ phát triển kinh tế tư nhân tại các quốc gia đang phát triển.

Câu hỏi thường gặp

Vốn xã hội đóng vai trò như thế nào đối với đổi mới sản phẩm của SMEs Việt Nam?

Vốn xã hội đóng vai trò là nguồn lực tri thức và cơ chế giảm chi phí giao dịch. Kết quả phân tích định lượng chỉ ra rằng việc tham gia hiệp hội doanh nghiệp giúp tăng xác suất cải tiến sản phẩm lên 14,8% và tăng xác suất thực hiện cả hai hình thức đổi mới lên 4,0% nhờ khả năng chia sẻ thông tin và thiết lập liên minh đối tác tin cậy.

Tại sao mô hình Logit đa thức (MNL) lại phù hợp cho nghiên cứu này thay vì mô hình OLS thông thường?

Biến phụ thuộc "hoạt động đổi mới" bao gồm 4 trạng thái danh nghĩa loại trừ lẫn nhau: không đổi mới, chỉ cải tiến sản phẩm, chỉ đổi mới quy trình, và thực hiện cả hai. Do các trạng thái này không có thứ bậc định lượng, mô hình OLS sẽ đưa ra ước lượng sai lệch, trong khi mô hình MNL giải quyết hoàn hảo bài toán lựa chọn đa biến rời rạc.

Hoạt động xuất khẩu tác động đến quyết định đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp ra sao?

Doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu (chiếm 6,0% mẫu) có xác suất cải tiến sản phẩm cao hơn 9,0% so với doanh nghiệp thuần túy nội địa. Hiện tượng này được giải thích bởi cơ chế học hỏi qua xuất khẩu, khi áp lực đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của đối tác quốc tế buộc doanh nghiệp phải liên tục nâng cấp chất lượng sản phẩm.

Vì sao biến số hỗ trợ từ mạng lưới lại không có ý nghĩa thống kê rõ rệt trong mô hình hồi quy?

Biến số hỗ trợ (trung bình 203 lượt liên hệ) chủ yếu phản ánh số lượng các hỗ trợ hành chính sự vụ ngắn hạn. Trong thực tế, chất lượng tương tác, mức độ tin cậy và chiều sâu chiến lược của các mối quan hệ (thể hiện qua việc gia nhập hiệp hội) có giá trị quyết định hơn rất nhiều so với tần suất nhận trợ giúp rời rạc.

Đặc điểm nhân khẩu học của chủ doanh nghiệp ảnh hưởng như thế nào đến khả năng đổi mới?

Chủ doanh nghiệp là nam giới có xác suất đổi mới cao hơn nữ giới 3,0%. Trong khi đó, độ tuổi của chủ doanh nghiệp (trung bình 46,4 tuổi) có tương quan nghịch với việc đổi mới quy trình (giảm 0,2% mỗi năm tuổi), do các nhà quản lý trẻ tuổi thường nhạy bén hơn với công nghệ mới và có mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn.

Kết luận

  • Luận văn đã lượng hóa thành công tác động của vốn xã hội đến hành vi đổi mới sản phẩm của SMEs Việt Nam thông qua mô hình Logit đa thức trên cỡ mẫu lớn gồm 2.341 quan sát thực tế.
  • Việc tham gia hiệp hội doanh nghiệp là yếu tố thúc đẩy đổi mới mạnh mẽ nhất, giúp tăng xác suất cải tiến sản phẩm lên 14,8% và tăng xác suất đổi mới toàn diện lên 4,0%.
  • Hoạt động xuất khẩu (tăng xác suất 9,0%) và áp lực cạnh tranh thị trường (tăng xác suất 7,5%) là các nhân tố ngoại cảnh quan trọng kích thích doanh nghiệp nâng cấp công nghệ và sản phẩm.
  • Đặc tính chủ doanh nghiệp trẻ tuổi, nam giới và quy mô lực lượng lao động lớn tạo ra nền tảng nội lực thuận lợi hơn cho quá trình đổi mới quy trình và sản phẩm.
  • Nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học vững chắc cho hệ thống chính sách phát triển kinh tế tư nhân giai đoạn 2026-2030, khuyến nghị Chính phủ và các cơ quan hữu quan cần tập trung phát triển các hiệp hội kinh doanh thực chất, dỡ bỏ rào cản thị trường và mở rộng đòn bẩy tài chính hỗ trợ xuất khẩu.

Các nhà quản trị doanh nghiệp và các cơ quan xúc tiến thương mại cần bắt tay ngay vào việc thiết lập và tham gia các mạng lưới liên kết chiến lược nhằm chuyển hóa vốn xã hội thành năng lực cạnh tranh cốt lõi trong kỷ nguyên hội nhập.