CHƯƠNG I Tác giả chọn đề tài “Văn hóa doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự cam kết gắn bó với tổ chức của nhân viên công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam” với lý do chọn đề tại, với mục tiêu nghiên cứu tổng quát và 3 mục tiêu cụ thể. Phương pháp nghiên cứu định lượng, sử dụng phần mềm SPSS 20 để phân tích đề tài nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu là toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp 2.1 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp hay còn được biết đến cái tên văn hóa tổ chức, là một khái niệm được nghiên cứu phổ biến trong vài chục năm trở lại đây.
Hiện nay, tồn tại rất nhiều khái niệm, định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp. Tác giả Schein (1990), Giáo sư danh dự về khoa học quản trị tại đại học MIT, vốn là một học giả có rất nhiều nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp, cho rằng: “văn hóa doanh nghiệp là một hình thức của các giả thiết cơ bản, được phát minh, khám phá, phát triển bởi một nhóm người khi họ học cách đối phó với các vấn đề liên quan đến việc thích nghi với bên ngoài và hội nhập với bên trong, đã phát huy tác dụng và được coi như có hiệu lực và do đó được truyền đạt cho các thành viên mới noi theo”. Luthan (1992) định nghĩa rằng văn hóa tổ chức bao gồm các chuẩn mực hệ thống giá trị, niềm tin và bầu không khí tại môi trường làm việc của doanh nghiệp, tuy nhiên có nhiều lập luận cho rằng văn hóa doanh nghiệp có thể được xem như là hệ thống các giá trị, các niềm tin và các khuôn mẫu hành vi ứng xử mà hình thành nên các đặc tính cốt lõi của tổ chức và giúp định hình các hành vi của nhân viên. Kottler và Heskett (1992) đã phát biểu trong cuốn Corporate Culture and Performance rằng văn hóa tổ chức được quan niệm như niềm tin và chia sẻ các giá trị trong các tổ chức, giúp định hình mô hình hành vi của người lao động.
Cùng quan điểm này, Ricardo và Jolly (1997) cũng khẳng định khi nói đến văn hóa doanh nghiệp, người ta thường nói về một tập hợp các giá trị và niềm tin được hiểu và chia sẻ bởi các thành viên trong tổ chức. Các giá trị và niềm tin này được đặc trưng cho từng tổ chức và để phân biệt giữa các tổ chức này với tổ chức khác. Văn hóa của một tổ chức giúp xác định và hình thành nên thái độ, hành vi của các thành viên trong tổ chức đó. Theo Đỗ Thị Phi Hoài (2009), văn hóa tổ chức là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tien chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức 7 hành động của từng thành viên trong hoạt động công vụ, tạo nên bản sắc của tổ chức đó.
Tương tự, Syed Z.và cộng sự (2011) cho rằng văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa được chia sẻ, giúp cho các thành viên của tổ chức hiểu được cách thức hành xử như thế nào. Nó có thể được coi như một mô hình bao gồm sự tin tưởng, nghi lễ, tập quán và trí tưởng tượng được phát triển trong một khoảng thời gian nhất định. Các khía cạnh của văn hóa doanh nghiệp ảnh hưởng tới hành vi tổng thể của các cá nhân trong tổ chức. Nhìn chung, mỗi tác giả nghiên cứu đều có những khái niệm khác nhau về lĩnh vực này, bởi thế mà thật sự khó khăn khi tìm ra được định nghĩa nào là đúng đắn nhất (Katarzyna S.
Sở dĩ có điều này là mỗi nhà nghiên cứu lại có một cách tiếp cận, cách nhìn khác nhau về Văn hóa doanh nghiệp. Theo thời gian, phạm vi khái niệm văn hóa doanh nghiệp càng trở nên rộng hơn, bao quát hơn. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng Văn hóa doanh nghiệp có thể được gọi là một tập hợp các mô hình giá trị, niềm tin và hành vi đã hình thành nên bản sắc chủ chốt của một doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp trong việc xác định hành vi của nhân viên (Ooi K. Vai trò của văn hóa doanh nghiệp Sở dĩ càng ngày càng có nhiều học giả nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp bởi lẽ theo thời gian, người ta càng nhận thấy vai trò to lớn của văn hóa doanh nghiệp trong công tác quản trị tổ chức.
Tìm hiểu về văn hóa doanh nghiệp là điều rất cần thiết vì nó có thể ảnh hưởng đến những suy nghĩ, cảm xúc, hiệu quả tương tác trong một tổ chức (Saeed và Hassan, 2000). Nguyễn Mạnh Quân (2012) cho rằng văn hóa doanh nghiệp có hai vai trò quan trọng sau: Thứ nhất, văn hóa doanh nghiệp là công cụ triển khai chiến lược cho nhà quản lý. Thứ hai, văn hóa doanh nghiệp là phương pháp tạo động lực cho người lao động và sức mạnh đoàn kết cho tổ chức, doanh nghiệp. Môi trường văn hóa của doanh nghiệp còn có ý nghĩa tác động quyết định đến tinh thần, thái độ, động cơ lao động của các thành viên và việc sử dụng đội ngũ lao động, các yếu tố khác, giúp cho doanh nghiệp trở thành một cộng đồng làm việc 8 trên tinh thần hợp tác, tin cậy, gắn bó, thân thiện.
Trên cơ sở đó hình thành tâm lý chung và lòng tin vào sự thành công của doanh nghiệp. Xây dựng một nề nếp văn hóa lành mạnh tiến bộ trong tổ chức, đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân trong doanh nghiệp, thu hút nhân tài, tăng cường sự gắn bó của người lao động, tạo ra khả năng phát triển bền vững Katarzyna S. (2014) cũng khẳng định văn hóa doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong tổ chức, giúp điều tiết hành vi của từng thành viên trong tổ chức, thậm chí là hành vi của cả tổng thể tổ chức đó. Văn hóa tổ chức được hình thành dựa trên “sự lý tưởng hóa những kinh nghiệm phổ biến”.
Nếu văn hóa tổ chức được xây dựng và phát triển lành mạnh sẽ làm gia tăng sự cam kết, lòng trung thành của nhân viên. Đồng thời điều đó cũng thúc đẩy mối quan hệ lành mạnh giữa các nhân viên, tạo ra một tình cảm gắn kết trong doanh nghiệp. Nhìn chung, văn hóa tổ chức giúp tạo nên hình ảnh thương hiệu của tổ chức, làm cho một tổ chức có thêm bản sắc. Nói một cách khác, một tổ chức được mọi người biết đến nhờ nền văn hóa của chính tổ chức đó, tạo ra lợi thế cạnh tranh là giá trị vô hình giúp khách hàng đối tác phân biệt các công ty với nhau, tổng hợp các yếu tố gắn kết, điều phối, kiểm soát, tạo động lực… làm tăng hiệu quả hoạt động và tạo sự khác biệt trên thị trường.
Hiệu quả và sự khác biệt sẽ giúp doanh nghiệp cạnh tranh tốt trên thị trường. (2012) thì văn hóa doanh nghiệp mạnh mẽ đến nỗi có thể tạo ra sự khuyến khích hoặc cũng có thể sự cản trở trong tổ chức. Đối với người lao động, văn hóa doanh nghiệp có thể coi là “chất keo kết dính”, hoặc ngược lại, cũng có thể coi là một “cơn gió thổi bay nhân viên” ra khỏi tổ chức. Một số mô hình văn hóa doanh nghiệp điển hình *** Mô hình 03 cấp độ văn hóa của Edgar H.Schein (1990) Theo ông văn hóa doanh nghiệp được chia ra làm 03 cấp độ như sau: - Cấp độ 01 – Cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp Đây là cấp độ văn hóa mà người khác có thể nhận ran gay trong lần đầu tiếp xúc bởi nó thể hiện ngay ra bên ngoài mà người khác có thể nghe, nhìn và cảm thấy khi tiếp xúc với tổ chức như: + Kiến trúc, cách bài trí doanh nghiệp 9 + Cơ cấu tổ chức, các phòng ban của doanh nghiệp + Lễ nghi và lễ hội hàng năm + Các biểu tượng, logo, khẩu hiệu, tài liệu quảng cáo + Hình thức, mẫu mã sản phẩm tiêu biểu - Cấp độ 02 – Các niềm tin và giá trị được đồng thuận: Bao gồm các giá trị cốt lõi, bộ quy tắc, quy định, chiến lược và mục tiêu riêng chính là kim chỉ nam cho hoạt động của toàn bộ nhân viên.
Các nội dung này sẽ được công bố rộng rãi. Đây cũng chính là những giá trị được tuyên bố, chấp nhận của văn hóa doanh nghiệp - Cấp độ 03 – Những quan niệm chung: Văn hóa dân tộc, văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp… luôn luôn gắn bó với nhau, chúng đều có các quan niệm chung, phong cách chung, bởi chúng đã hình thành và tồn tại trong quá trình lịch sử. Chúng ăn sâu vào suy nghĩ của hầu hết các thành viên trong nền văn hóa đó và trở thành thói quen chi phối hành động, góc nhìn. *** Mô hình của giáo sư Daniel Denison (1990): Theo ông có 4 yếu tố hình thành nên văn hóa doanh nghiệp đó là: khả năng thích ứng, sứ mệnh, tính nhất quán, sự tham chính có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của công ty.
Mô hình văn hóa doanh nghiệp của Daniel Denison Nguồn: Th.s Trương Hoài Lâm (2012) 10 (1) Sự tham chính: Thể hiện ở sự xây dựng của nhân viên, quyền sở hữu và trách nhiệm. Doanh nghiệp thường tập trung vào việc phát triển và thu hút nhân viên. Ba yếu tố của phần này là: - Phân quyền: nhân viên được làm chủ tính sáng tạo và tư duy trong công việc. - Định hướng làm việc nhóm: nhân viên dựa vào một nhóm để có thể hoàn thành được công việc lớn.
- Phát triển năng lực: doanh nghiệp tập trung vào việc phát triển kỹ năng của nhân viên để tăng hiệu suất làm việc cũng như khả năng cạnh tranh trên thị trường. (2) Tính nhất quán: Được xác định sự vững chắc và kết cấu nội bộ của văn hóa doanh nghiệp. Yếu tố này cũng bao gồm ba thành tố nhỏ: - Giá trị cốt lõi: doanh nghiệp có một hệ thống các giá trị chung để tạo nên bản sắc riêng cũng như đáp ứng được nguyện vọng của nhân viên. - Sự đồng thuận: các nhà lãnh đạo có đủ uy tín và năng lực để có được sự tín nhiệm cũng như khả năng giải quyết các vấn đề trái chiều trong kinh doanh - Hợp tác và hội nhập: các phòng ban trong doanh nghiệp có sự tổ chức và hợp tác chặt chẽ trong mỗi kế hoạch làm việc của công ty.