Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách. 1 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Tỷ giá hối đoái và tỷ giá thực đa phƣơng 2.1 Khái niệm Tỷ giá hối đoái được hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tỷ giá hối đoái dựa trên mục đích khác nhau.
Về tương quan giá trị giữa đồng tiền của hai quốc gia, tỷ giá là giá của một đơn vị tiền tệ này tính bằng đơn vị tiền tệ khác. Theo Paul R Krugman, Maurice Obstfeld và Marc J. Melitz (2012), Lê Phan Thị Diệu Thảo và Nguyễn Trần Phúc (2015) đều định nghĩa tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010) định nghĩa tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng tiền tệ của Việt Nam.
Tỷ giá thực đa phương là tỷ giá hối đoái được phân loại nhằm mục đích cho thấy tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu. Tỷ giá thực đa phương được tính toán bằng số trung bình của các chỉ số tỷ giá giữa đồng nội tệ và các nước còn lại với nguyên tắc tỷ lệ thuận với tỷ trọng thương mại, được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và ở tất cả các nước còn lại. Theo Akorli và Edem (2017) cho rằng tỷ giá thực đa phương là thước đo giá trị của một loại tiền so với trung bình có trọng số của một số ngoại tệ, được chia toàn bộ cho lạm phát. Nguyễn Văn Tiến (2017) định nghĩa tỷ giá thực đa phương là số trung bình của các chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương đã được điều chỉnh đi tỷ lệ lạm phát trong nước và các nước còn lại.2 Niêm yết tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái được niêm yết theo hai phương pháp sau: Phương pháp yết giá trực tiếp: giá của một đơn vị nội tệ tính bằng số đơn vị ngoại tệ.
Trong phương pháp này đồng nội tệ sẽ đóng vai trò là đồng yết giá và có đơn vị cố định là một đơn vị, còn đồng ngoại tệ đóng vai trò là đồng định giá có số đơn vị thay đổi dựa theo thay đổi trên thị trường ngoại hối. 1 Phương pháp yết giá gián tiếp: giá của một đơn vị ngoại tệ được tính bằng số đơn vị nội tệ. Khi đó đồng ngoại tệ sẽ đóng vai trò đồng yết giá, còn đồng nội tệ của quốc gia đó sẽ là đồng định giá, đây là cách yết giá tại các quốc gia sở hữu đồng tiền yếu. Trong phạm vị bài nghiên cứu, nghiên cứu thống nhất sử dụng phương pháp yết giá gián tiếp trong cách trình bày.
Trong đó, đồng tiền của các đối tác thương mại sẽ đóng vai trò đồng yết giá, còn Việt Nam đồng sẽ đóng vai trò là đồng định giá.3 Đo lƣờng tỷ giá thực đa phƣơng Trên thế giới, tính đến thời điểm hiện tại đã có hơn 80 quốc gia tính và công bố tỷ giá thực đa phương (IMF, 2019). Nhiều nghiên cứu đưa ra cách tính tỷ giá thực đa phương như Maxwell Opoku-Afari (2011), Plamen Lossifov and Xuan Fei (2019). Hai vấn đề để tính được tỷ giá thực đa phương là lựa chọn ra đối tác thương mại để tính trọng số thương mại của từng đối tác và lạm phát. Các đối tác thương mại được lựa chọn là các đối tác thương mại có tổng kim nghạch xuất nhập khẩu lớn, việc lựa chọn đối tác thương mại để tính tỷ giá thực đa phương càng nhiều thì độ tin cậy của tỷ giá thực đa phương càng cao vì dữ liệu tính toán được sẽ sát với thực tế hơn, tuy nhiên lựa chọn đối tác thương mại càng nhiều đồng nghĩa với lượng dữ liệu thu thập nhiều hơn.
Lạm phát được tính theo 3 phương pháp là phương pháp chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất và phương pháp chỉ số giảm phát. Phương pháp chỉ số giá tiêu dùng cho thấy xu hướng và mức biến động giá cả chung qua thời gian của hàng hóa dịch vụ đại diện cho tiêu dùng cuối cùng của người dân. Phương pháp chỉ số giá sản xuất lại đo lường sự thay đổi của mức giá sản xuất do sự thay đổi của các hàng hóa đầu vào hoặc mức thay đổi của mức giá mà nhà sản xuất phải trả cho hàng hóa và dịch vụ đầu vào trong quá trình sản xuất. Phương pháp chỉ số giảm phát lại đo lường mức biến động giá cả sản xuất trung bình của nền kinh tế.
Trong nhiều nghiên cứu trước như Akorli và Edem (2017); Burçak Müge Tynaervural (2015) và Nguyễn Văn Tiến (2017) đều sử dụng phương pháp chỉ số giá tiêu dùng để đo lường lạm phát nhằm tính tỷ giá thực đa phương. Do vậy, nghiên cứu sử dụng phương pháp chỉ số giá tiêu dùng để đo lường lạm phát tính tỷ giá thực đa phương. 1 Tính đến nay, tại Việt Nam chưa có cơ quan nào công bố chính thức tỷ giá thực đa phương. Tuy nhiên, trong một số nghiên cứu đã tính toán tỷ giá thực đa phương như Nguyễn Văn Tiến (2003), Tô Trung Thành (2016) và Nguyễn Văn Tiến (2017).
Qua đó tỷ giá thực đa phương thể hiện tương quan sức mua giữa nội tệ và các đồng tiền trong rổ tiền tệ. Rổ tiền tệ được lựa chọn từ đồng tiền của các nước bạn hàng. Để tính tỷ giá thực đa phương ta tiến hành tính toán qua các bước sau: - Tính chỉ số tỷ giá của đồng tiền thứ j trong rổ tiền tệ tại thời kỳ i eij = Eij / E0j - Tính tỷ giá danh nghĩa đa phương thời kỳ i NEERi = ∑n eijx TMj j CPIw = ∑n CPIijx GDPj - Tính CPI trung bình trọng số của tất cả các đối tác thương mại thời kỳ i i j=1 - Tính tỷ giá thực đa phương thời kỳ i w CPI i CP REERi = NEERi x i Trong đó: Eij là tỷ giá danh nghĩa thời kỳ i của đồng tiền thứ j trong rổ tiền tệ so với đồng nội tệ; E0t là tỷ giá danh nghĩa thời kỳ 0 của đồng tiền thứ j trong rổ tiền tệ so với đồng nội tệ; NEERi là tỷ giá danh nghĩa đa phương thời kỳ i; TMj là tỷ trọng thương mại của đối tác thương mại có đồng tiền thứ j trong rổ tiền tệ; CPIwi là chỉ số giá tiêu dùng trung bình trọng số của các đối tác thời kỳ i; CPIij là chỉ số giá tiêu dùng thời kỳ i của đối tác thương mại có đồng tiền thứ j trong rổ tiền tệ; GDPj là tỷ trọng tổng sản phẩm quốc nội của đối tác thương mại có đồng tiền thứ j trong rổ tiền tệ; CPI i là chỉ số giá tiêu dùng thời kỳ i của Việt Nam và REER i là tỷ giá thực đa phương thời kỳ i.2 Cán cân thƣơng mại 2.1 Khái niệm Có nhiều giáo trình và nghiên cứu định nghĩa về cán cân thương mại. Theo Nguyễn Văn Ngọc (2006) định nghĩa rằng cán cân thương mại là mức chênh lệch 1 giữa xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa, còn gọi là xuất khẩu ròng.
Lê Phan Thị Diệu Thảo và Nguyễn Trần Phúc (2015) định nghĩa cán cân thương mại thể hiện các hoạt động mua bán hàng hóa giữa người cư trú và người không cư trú trong một thời kỳ nhất định. Giao dịch hàng hóa được phản ảnh vào cán cân thương mại là các hoạt động mua bán hàng hóa hữu hình như: nông sản, xăng dầu, máy móc, hàng tiêu dùng,.Cán cân thương mại được chia thành hai phần: xuất khẩu và nhập khẩu. Xuất khẩu hàng hóa hình thành dòng tiền chuyển vào quốc gia, tạo nên nguồn cung tiền cho nền kinh tế. Nhập khẩu hình thành dòng tiền chuyển ra khỏi đất nước, tạo ra cầu tiền trong nền kinh tế.
Nguyễn Văn Tiến (2017) định nghĩa cán cân thương mại phản ánh các giao dịch về hàng hóa hữu hình giữa người cư trú và người không cứ trú, mà các hàng hóa này lại có thể quan sát được bằng mắt thường khi dịch chuyển qua biên giới hải quan.2 Trạng thái của cán cân thƣơng mại Cán cân thượng mại được hiểu là chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và giá trị nhập khẩu hàng hóa. Đẳng thức xác định trạng thái cán cân thương mại: TB = Xuất khẩu – Nhập khẩu TB thặng dư: Xuất khẩu – Nhập khẩu > 0 TB thâm hụt: Xuất khẩu – Nhập khẩu < 0 Trạng thái của cán cân thượng mại cho biết dòng tiền đầu tư ròng của một quốc gia. Cán cân thương mại thặng dư chứng tỏ quốc gia đó bán được nhiều hàng hóa và nhận được một luồng tiền từ người không cư trú. Luồng tiền này sẽ làm tăng tài sản có hoặc giảm tài sản nợ của quốc gia với phần còn lại của thế giới, trở thành nhà cung cấp vốn cho phần còn lại của thế giới.
Ngược lại cán cân thương mại thâm hụt quốc gia phải chi trả một lượng tiền cho phần còn lại thế giới, vì vậy quốc gia trở thành người vay nợ nước ngoài. TB được tính là tỷ lệ xuất khẩu so với nhập khẩu. Cách tính này không phản ánh đúng cách tính cán cân thương mại trong cán cân thanh toán - chênh lệch xuất khẩu và nhập khẩu, nhưng là cách tính được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu thực nghiệm do có được hai đặc điểm nổi bật. Thứ nhất, cán cân thương mại tính theo cách này không phụ thuộc vào đơn vị đo lường của xuất khẩu, nhập khẩu và 1 có thể giải thích đồng thời dưới dạng cán cân thương mại danh nghĩa và thực.
Thứ hai, cách tính này loại trừ trường hợp cán cân thương mại có giá trị âm để có thể sử dụng mô hình dạng log-log. Theo đó, cán cân thương mại thặng dư khi TB>1, cán cân thương mại thâm hụt khi TB<1 và cán cân thương mại cân bằng khi TB = 1.3 Các yếu tố tác động đến cán cân thƣơng mại 2.1 Tổng thu nhập quốc dân Tổng thu nhập quốc dân tăng làm tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa nội địa và hàng hóa nước ngoài. Tổng thu nhập quốc dân giảm làm giảm nhu cầu tiêu dùng hàng hóa nội địa và hàng hóa nước ngoài Do vậy, tổng thu nhập trong nước tăng có tác động làm nhập khẩu trong nước có xu hướng tăng, tổng thu nhập trong nướcgiảm có tác động làm nhập khẩu trong nước có xu hướng giảm. Tổng thu nhập thế giới tăng có tác động làm tăng nhập khẩu của thế giới, nhập khẩu của thế giới tăng tức là làm tăng xuất khẩu trong nước.