Tổng quan nghiên cứu
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của Việt Nam được đánh dấu bằng các cột mốc quan trọng như gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2006, tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) năm 2016 và chính thức thực thi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) từ ngày 14/01/2019. Đi cùng với độ mở kinh tế ngày càng cao, cán cân thương mại Việt Nam trong giai đoạn sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đến cuối năm 2019 thường xuyên ở trạng thái thâm hụt lớn, tiêu biểu như năm 2010 thâm hụt 15,1 tỷ USD, năm 2015 thâm hụt 7,5 tỷ USD và năm 2019 mức thâm hụt duy trì ở mức gần 7,0 tỷ USD.
Nhằm thích ứng với các biến động kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã triển khai nhiều đợt điều chỉnh chính sách tỷ giá linh hoạt. Cụ thể, cơ quan quản lý đã tiến hành phá giá đồng Việt Nam 5,4% vào ngày 26/11/2009, tiếp tục điều chỉnh giảm giá 9,3% vào tháng 2/2011, mở rộng biên độ tỷ giá từ ±2% lên ±3% vào ngày 19/8/2015 và đưa tỷ giá trung tâm chạm mốc 22.996 VND/USD vào ngày 12/4/2019.
Luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng của tác giả Nguyễn Thế Việt tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh (người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thùy Dương, năm 2020) được thực hiện nhằm lượng hóa tác động của tỷ giá thực đa phương (REER) đến cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn từ quý 1/2009 đến quý 3/2019. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi xây dựng chỉ số REER đại diện cho rổ 13 đồng tiền của các đối tác chiếm hơn 70% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, cung cấp cơ sở thực nghiệm vững chắc giúp cơ quan điều hành định hình các giải pháp cải thiện cán cân ngoại thương bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng khung phân tích dựa trên hai nền tảng lý thuyết cốt lõi trong kinh tế học quốc tế gồm cách tiếp cận co giãn (Elasticity Approach) và cách tiếp cận chi tiêu (Absorption Approach).
Cách tiếp cận co giãn khởi xướng bởi Bickerdike, Robinson và Metzler giải thích cơ chế tỷ giá tác động đến giá tương đối giữa hàng hóa nội địa và quốc tế. Trong đó, điều kiện Marshall - Lerner chỉ ra rằng chính sách phá giá nội tệ chỉ cải thiện cán cân thương mại khi tổng độ co giãn của cầu xuất khẩu và cầu nhập khẩu theo tỷ giá lớn hơn 1. Hiệu ứng đường cong J của Magee (1973) làm rõ thêm khía cạnh động: sau khi phá giá, cán cân thương mại sẽ xấu đi trong ngắn hạn do các hợp đồng thương mại đã ký kết với giá cố định, sau đó mới dần cải thiện trong dài hạn khi khối lượng xuất nhập khẩu thích ứng linh hoạt.
Song song đó, cách tiếp cận chi tiêu do Alexander phát triển năm 1952 xem xét cán cân thương mại thông qua mối tương quan giữa tổng thu nhập quốc dân (Y) và tổng chi tiêu nội địa (A) qua đồng nhất thức: TB = Y - A. Lý thuyết này nhấn mạnh việc phá giá chỉ mang lại thặng dư thương mại khi mức gia tăng sản lượng và thu nhập vượt qua mức gia tăng tổng chi tiêu trong nước. Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa gồm tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER), tỷ giá thực đa phương (REER) và tỷ số cán cân thương mại (TB = Kim ngạch xuất khẩu / Kim ngạch nhập khẩu) nhằm loại bỏ sai lệch đơn vị đo lường.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian thứ cấp gồm 43 quan sát theo tần suất quý, trải dài từ quý 1/2009 đến quý 3/2019. Dữ liệu được thu thập từ các tổ chức uy tín: Tổng cục Hải quan (kim ngạch xuất nhập khẩu), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước (tỷ giá hối đoái), Tổng cục Thống kê (chỉ số giá tiêu dùng CPI, GDP trong nước) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (GDP thế giới và CPI các nước đối tác).
Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng để thiết lập rổ tiền tệ gồm 13 đối tác thương mại hàng đầu có quan hệ liên tục với Việt Nam: Hoa Kỳ (chiếm 13% kim ngạch), Trung Quốc (chiếm 21%), Hàn Quốc (12%), Nhật Bản (9%), Thái Lan (4%), Đức (3%), Vương quốc Anh (2%), Hồng Kông (2%), cùng Ấn Độ, Indonesia, Canada, Nga và Thụy Sĩ (mỗi quốc gia chiếm khoảng 1%). Quý 1/2009 được lựa chọn làm kỳ gốc do phản ánh trạng thái ngang giá sức mua tương đối với giá trị TB đạt xấp xỉ 1,05, đồng thời hạn chế các điểm gãy cấu trúc sau khủng hoảng 2008.
Quy trình ước lượng định lượng được thực hiện trên phần mềm EViews 10 thông qua các bước chặt chẽ:
- Kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller (ADF) nhằm xác định bậc tích hợp của chuỗi số liệu.
- Lựa chọn độ trễ tối ưu dựa trên tiêu chuẩn thông tin AIC và SIC nhỏ nhất.
- Kiểm định đồng liên kết Johansen (sử dụng kiểm định Trace và Maximum Eigenvalue) để tìm mối quan hệ cân bằng dài hạn.
- Ước lượng mô hình Vector hiệu chỉnh sai số (VECM) nhằm tích hợp tốc độ điều chỉnh sai số ECT giữa ngắn hạn và dài hạn.
- Kiểm định quan hệ nhân quả Granger, phân tích hàm phản ứng đẩy và phân rã phương sai trong khung thời gian 10 quý để đo lường mức độ tác động ngắn hạn của các cú sốc tỷ giá.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thống kê mô tả từ 43 quan sát cho thấy chỉ số TB trung bình của Việt Nam đạt 0,701262 (độ lệch chuẩn 0,07077), giá trị cao nhất đạt 1,05274 vào quý 1/2009 và giá trị thấp nhất là 0,551600, phản ánh trạng thái nhập siêu chiếm ưu thế. Chỉ số tỷ giá thực đa phương REER đạt giá trị trung bình 1,048200, dao động từ 0,89278 đến 1,24786, cho thấy đồng Việt Nam nhìn chung được định giá thấp hơn tương đối so với rổ tiền tệ đối tác. GDP trong nước ghi nhận mức trung bình 933.518,90 tỷ đồng (dao động từ 345.614,30 tỷ đến 1.851.928,00 tỷ đồng), trong khi GDP thế giới quy đổi đạt bình quân 2,54 x 10^11 tỷ đồng.
Kết quả kiểm định kinh tế lượng mang lại các phát hiện trọng tâm sau:
- Toàn bộ 5 chuỗi dữ liệu (TB, REER, GDPVN, GDPW, P) đều không dừng ở bậc gốc nhưng dừng ở sai phân bậc 1 tại mức ý nghĩa 5%, thỏa mãn điều kiện tích hợp cùng bậc I(1).
- Kiểm định Johansen xác nhận sự tồn tại của 1 vector đồng liên kết dài hạn giữa cán cân thương mại và các biến số kinh tế vĩ mô.
- Trong ngắn hạn, kết quả hàm phản ứng đẩy và phân rã phương sai chứng minh cán cân thương mại phản ứng ngược chiều trước cú sốc tăng của tỷ giá thực đa phương. Cụ thể, khi REER tăng 1 độ lệch chuẩn, chỉ số TB suy giảm liên tục từ quý thứ 2 đến quý thứ 4 trước khi hồi phục nhẹ. Tỷ giá thực đa phương giải thích khoảng 8,5% đến 12,3% sự biến động của TB sau 6 đến 10 quý.
- Trong dài hạn, hệ số ước lượng của REER không có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, khẳng định tỷ giá thực đa phương không phải là nhân tố quyết định trực tiếp đến trạng thái cán cân thương mại dài hạn của Việt Nam. Thay vào đó, tổng thu nhập trong nước tác động âm và tổng thu nhập thế giới tác động dương có ý nghĩa quyết định đến cán cân thương mại.
Thảo luận kết quả
Dữ liệu thực nghiệm của nghiên cứu được minh họa trực quan thông qua đồ thị phản ứng đẩy 10 thời kỳ và bảng phân rã phương sai sai số dự báo. Kết quả cho thấy xu hướng biến động của cán cân thương mại Việt Nam hoàn toàn trùng khớp với giai đoạn đầu của hiệu ứng đường cong J.
Nguyên nhân kinh tế sâu xa của hiện tượng cán cân thương mại xấu đi trong ngắn hạn khi REER tăng (VND giảm giá thực) bắt nguồn từ đặc thù cơ cấu ngoại thương của Việt Nam. Nền sản xuất trong nước phụ thuộc lớn vào việc nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu và linh kiện bán thành phẩm phục vụ cho các ngành xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giày, điện tử (chiếm trên 80% tổng giá trị nhập khẩu). Khi tỷ giá tăng, chi phí đầu vào tính bằng nội tệ lập tức tăng vọt trong khi sản lượng và hợp đồng xuất khẩu chưa thể mở rộng ngay tức thì do độ trễ cung ứng và tính cứng nhắc của thị trường.
Phát hiện này có sự tương đồng lớn với các công trình nghiên cứu của Tô Trung Thành (2015) và Đặng Thị Huyền Anh (2012) khi ghi nhận phản ứng trễ tiêu cực của ngoại thương Việt Nam. Đồng thời, kết quả chỉ ra sự khác biệt với nghiên cứu của Đặng Ngọc Đức và cộng sự (2016) trong giai đoạn 2011–2015, giải thích rõ rằng việc phá giá tiền tệ chỉ mang tính chất cải thiện tạm thời và không thể xem là công cụ lâu dài để thúc đẩy thặng dư thương mại nếu hàm lượng giá trị gia tăng nội địa chưa được nâng cao.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa hiệu quả ngoại thương và quản hành chính sách vĩ mô:
- Hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần tiếp tục theo dõi sát sao chỉ số REER dựa trên rổ 13 đồng tiền trọng yếu, duy trì biên độ điều chỉnh tỷ giá thực hàng năm trong phạm vi 2,0% đến 3,0%, tránh các đợt điều chỉnh giật cục nhằm giảm thiểu cú sốc chi phí nhập khẩu nguyên liệu cho doanh nghiệp trong lộ trình 2021–2025.
- Phát triển mạng lưới công nghiệp hỗ trợ và gia tăng giá trị nội địa: Bộ Công Thương chủ trì phối hợp cùng các hiệp hội ngành nghề đẩy mạnh chương trình liên kết cung ứng, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa của ngành dệt may và điện tử từ mức 35% lên 50% đến 55% vào năm 2026, giúp giảm dần mức độ lệ thuộc vào nguồn linh kiện nhập khẩu khi tỷ giá biến động.
- Tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới: Cục Xúc tiến Thương mại và các hiệp hội doanh nghiệp cần đẩy mạnh khai thác thị trường CPTPP và EVFTA, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường mới đạt 12% đến 15%/năm trong giai đoạn 2022–2027, giảm thiểu rủi ro tỷ giá tập trung vào một vài đồng tiền thanh toán truyền thống.
- Khuyến khích ứng dụng công cụ phái sinh phòng ngừa rủi ro ngoại hối: Ngân hàng Nhà nước và hệ thống ngân hàng thương mại cần đa dạng hóa các sản phẩm hợp đồng kỳ hạn (Forward) và hợp đồng quyền chọn (Option), đặt mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp xuất nhập khẩu quy mô vừa và lớn sử dụng công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá lên mức 40% đến 45% vào năm 2025 nhằm bảo vệ biên lợi nhuận kinh doanh.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách vĩ mô (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương): Sử dụng mô hình ước lượng VECM và chỉ số REER 13 đồng tiền để đánh giá độ trễ truyền dẫn của chính sách tỷ giá, xây dựng các kịch bản điều hành tiền tệ và cán cân thanh toán quốc tế chuẩn xác.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế quốc tế: Khai thác phương pháp luận kinh tế lượng chuỗi thời gian, quy trình tính toán tỷ trọng thương mại đa phương và kỹ thuật kiểm định đồng liên kết Johansen trên phần mềm EViews 10 phục vụ các công trình nghiên cứu học thuật.
- Giám đốc tài chính (CFO) và chuyên viên quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Nắm bắt cơ chế tác động của tỷ giá thực lên chi phí đầu vào và doanh thu ngoại tệ, từ đó thiết lập chiến lược định giá xuất khẩu hợp lý và chủ động phòng ngừa biến động tỷ giá.
- Chuyên viên phân tích vĩ mô tại các công ty chứng khoán và quỹ đầu tư tài chính: Vận dụng các phát hiện về mối quan hệ giữa GDP trong nước, GDP quốc tế và tỷ giá thực để dự báo xu hướng dòng vốn ngoại thương, đưa ra khuyến nghị phân bổ danh mục đầu tư hiệu quả.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao nghiên cứu lựa chọn tỷ giá thực đa phương (REER) thay vì tỷ giá danh nghĩa song phương thông thường?
Tỷ giá danh nghĩa song phương chỉ đo lường tương quan giữa hai đồng tiền đơn lẻ và bỏ qua chênh lệch lạm phát. Trong khi đó, REER phản ánh sức mua tương đối của đồng Việt Nam so với rổ 13 đồng tiền đối tác lớn nhất (chiếm trên 70% kim ngạch) đã được điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng CPI, đo lường chính xác năng lực cạnh tranh thương mại quốc tế.
Hiệu ứng đường cong J được thể hiện như thế nào trong bối cảnh ngoại thương Việt Nam?
Khi đồng Việt Nam mất giá thực, trong 2 đến 4 quý đầu, chi phí nhập khẩu nguyên phụ liệu tăng ngay lập tức trong khi khối lượng xuất khẩu chưa thể mở rộng kịp thời do các hợp đồng định sẵn, khiến cán cân thương mại xấu đi. Sau khoảng thời gian trễ này, khối lượng xuất khẩu mới dần tăng lên giúp cán cân thương mại phục hồi.
Tại sao tỷ giá thực đa phương không tác động đáng kể đến cán cân thương mại trong dài hạn?
Trong dài hạn, cán cân thương mại Việt Nam chịu sự chi phối chủ yếu bởi các nhân tố cấu trúc nền kinh tế như tổng thu nhập quốc dân, thu nhập thế giới và năng lực cạnh tranh phi giá cả (chất lượng, thương hiệu). Tác động giá từ việc điều chỉnh tỷ giá bị triệt tiêu dần do chi phí nhập khẩu nguyên liệu đầu vào tăng theo thời gian.
Tiêu chí nào được sử dụng để xây dựng rổ 13 đồng tiền tính toán REER trong luận văn?
Rổ tiền tệ được lựa chọn dựa trên tiêu chí đối tác duy trì quan hệ ngoại thương liên tục và chiếm tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu lớn nhất giai đoạn 2009–2019. Rổ bao gồm các đồng tiền chủ chốt như USD (Hoa Kỳ 13%), CNY (Trung Quốc 21%), KRW (Hàn Quốc 12%), JPY (Nhật Bản 9%), THB (Thái Lan 4%) và 8 đồng tiền lớn khác.
Mô hình VECM có ưu thế gì so với mô hình hồi quy OLS hay mô hình VAR thông thường?
Mô hình VECM giải quyết triệt để hiện tượng hồi quy giả mạo của các chuỗi thời gian không dừng cùng bậc I(1) có đồng liên kết. Khác với OLS hoặc VAR thuần túy, VECM cho phép phân tách và lượng hóa đồng thời mối quan hệ cân bằng dài hạn thông qua hệ số hiệu chỉnh sai số ECT và các phản ứng động học ngắn hạn giữa các biến số.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ giá thực đa phương (REER) và cán cân thương mại (TB) Việt Nam qua chuỗi dữ liệu 43 quý giai đoạn 2009–2019.
- Xây dựng thành công chuỗi chỉ số REER đại diện cho rổ 13 đồng tiền của các đối tác thương mại trọng yếu, bảo đảm tính đại diện cao cho sức cạnh tranh của nền kinh tế.
- Khẳng định tỷ giá thực đa phương tác động ngược chiều tới cán cân thương mại trong ngắn hạn, cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ nét về sự tồn tại của hiệu ứng đường cong J tại Việt Nam.
- Chứng minh trong dài hạn REER không tạo ra tác động đáng kể lên TB, trong khi thu nhập nội địa và thu nhập thế giới đóng vai trò chi phối cấu trúc thương mại.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm khuyến nghị chính sách đồng bộ từ điều hành tỷ giá linh hoạt, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa đến phát triển công cụ phái sinh tài chính.
Trong giai đoạn 2025–2030, các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng phân tích dữ liệu vi mô theo từng nhóm ngành hàng xuất nhập khẩu cụ thể. Độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể tham khảo toàn văn luận văn tại Thư viện Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh để đào sâu các mô hình kinh tế lượng và ứng dụng trong thực tiễn.