Chương I: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các công trình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và gợi ý giải pháp CHUONG 2: CO SO LY THUYET VA TONG QUAN CAC CÔNG TRÌNH NGHIEN CUU 2. Một số khái niệm 2. Khái niệm tỷ giá hối đoái Việc trao đổi mua bán không chỉ giới hạn trong phạm vi một nước mà có sự tham gia của nhiều quốc gia khác nhau. Khi đó, các quan hệ thanh toán, tín dụng trong giao dịch ngoại thương giữa các bên đòi hỏi phải sử dụng đơn vị tiền tệ của một trong hai nước nhưng cũng có thể là đồng tiền của nước thứ ba.
Vì vậy vấn đề chuyên đổi đồng tiền nước này sang nước khác đề xác định giá trị giao địch, thanh toán có ý nghĩa rất quan trọng. Để thực hiện việc chuyên đổi đó phải dựa vào một mức quy đổi xác định. Điều này đã nảy sinh phạm trù tỷ giá hối đoái trong nền kinh tê. Tỷ giá là giá của một đơn vị tiền tệ này được biểu thị thông qua một số lượng đơn vị tiền tệ khác (Lê Phan Thị Diệu Thảo, 2015) 2.
Tỷ giá danh nghĩa Tỷ giá danh nghĩa là giá cả của một đồng tiền biéu thị qua một số lượng đơn vị tiền tệ khác mà không tính đến yếu tố lạm phát. Tỷ giá danh nghĩa được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối, giao dịch trong ngoại thương, đầu tư. Tỷ giá danh nghĩa bao gồm tỷ giá danh nghĩa song phương và tỷ giá danh nghĩa đa phương. v Ty gia danh nghia song phuong (Bilateral Nominal Exchange Rate — NER) là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa giữa chúng.
v Ty gia danh nghĩa đa phương (Nominal Effective Exchange Rate - NEER) là tỷ giá phản ánh sự thay đôi giá trị của một đồng tiền với tat cả các loại đồng tiền còn lại, hay một rổ các đồng tiền đặc trưng và được biểu diễn dưới dạng chỉ số. NEER được tính theo công thức: NEER; = DL) ey X Wj (2.1) Với NEER là tỷ giá danh nghĩa đa phương, e là chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương trong kỳ, w là tỷ trọng của tỷ giá danh nghĩa song phương, j là số thứ tự của các tỷ giá danh nghĩa song phương, ¡ là kỳ tính toán. Nếu NEER > 1 thi đồng nội tệ được xem là giảm giá so với các đồng tiền còn lại còn nếu NEER < I thì đồng nội tệ được xem là lên giá so với các đồng tiền còn lại. Do tỷ giá danh nghĩa chưa đề cập đến tương quan sức mua giữa các đồng tiền với nhau, nên khi tỷ giá danh nghĩa tăng lên hay giảm xuống không đồng nghĩa với sự tăng hay giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế của một quốc gia.
Do vậy, để đo sự thay đôi về sức cạnh tranh thương mại quốc tế, phải sử dụng đến tỷ giá thực. Tỷ giá thực Tỷ giá thực là tỷ giá được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và nước ngoài, do đó tỷ giá thực phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ. Tỷ giá thực bao gồm: v TY gia thuc song phương (Real Bilateral Exchange Rate - RER) Tỷ giá thực song phương là tỷ giá được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát giữa hai nước, do đó, nó là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ. v⁄ Tỷ giá thực đa phương (Real Effective Exchange Rate - REER) Tỷ giá thực đa phương là tỷ giá được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đa phương đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và tất cả các nước còn lại.
Do đó, tỷ giá thực đa phương phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và các đồng tiền khác. CPIỶ CPIỹN Er REER = W; x x =~ x 100 (2.2) base Trong đó: REER là tỷ gid thyc da phuong, W; 1a tỷ trọng thương mại của đối tác thương mại ¡ tại thời điểm t, CPIỆ là chỉ số giá tiêu dùng của đối tác thương mại ¡ tại thời điểm t, CPIƑ là chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam tại thời điểm t, E‡ là chỉ số tỷ giá danh nghĩa giữa VND và đồng tiền nước ¡ tại thời điểm t và E] _. là chỉ số tỷ giá danh nghĩa giữa VND và đồng tiền nước ¡ năm cơ sở. Khi REER lớn hơn 100 có nghĩa đồng nội tệ định giá thấp hơn so với rô tiền tệ, ngược lại khi REER nhỏ hơn 100 thì đồng nội tệ bị định giá cao hơn rô tiền tệ.
Khi REER bằng 100, đồng nội tệ có ngang giá sức mua so với rổ tiền tệ. REER tăng lên cho thấy sức cạnh tranh thương mại của quốc gia là được cải thiện. Ngược lại nếu REER giảm cho thấy sức cạnh tranh thương mại của quốc gia bị giảm xuống. Khái niệm lạm phát Trong nhiều nền kinh tế, hầu hết giá cả có xu hướng tăng theo thời gian.
Sự gia tăng của mức giá cả chung theo thời gian được gọi là lạm phát (Mankiv 2003). Khái niệm này cũng ngụ ý rằng lạm phát không phải là hiện tượng giá cả của một vai hang hóa hay nhóm hàng hóa nào đó tăng lên, mà nó cũng không phải là hiện tượng giá cả chung tăng lên “một lần”. Nếu mức giá chung tăng lên một lần thì hiện tượng này chỉ là cú sốc về giá chứ chưa phải lạm phát, lạm phát là sự tăng giá “liên tục”. Lạm phát vẫn có thể xảy ra khi giá của một số hàng hóa giảm, nhưng giá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh.
Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của đồng tiền. Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít đơn vị hàng hóa và dịch vụ hơn. Hay nói một cách khác, trong bối cảnh lạm phát, chúng ta sẽ phải chỉ ngày càng nhiều tiền hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định. Đề đo lường mức độ lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kỳ nhất định, các nhà thống kê kinh tế sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đôi của mức giá chung.
Tỷ lệ lạm phát cho thời kỳ t được tính theo công thức sau: c= Tự 100% (2.3) Trong đó: 7: tỷ lệ lạm phát của thời kỳ t (có thé là tháng, quí, hoặc năm), Pt: mức giá của thời kỳ t, P,¡: mức giá của thời kỳ trước đó, để tính được tỷ lệ lạm phát. Về mặt tính toán, mức giá chung được đo lường bằng chỉ số giá trong nền kinh tế theo từng giai đoạn, có thê theo tháng, quý, năm. Những chỉ số giá quan trọng là chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số điều chỉnh GDP (GDPp), chỉ số giá hàng hóa bán lẻ (RPI), chỉ số giá sản xuất (PPI) va chỉ số giá hàng hóa bán buôn (WPI). Trong đó, hai chỉ số giá để đo lường mức giá chung CPI và GDPp là phổ biến nhất.
Trong thực tế, các số liệu công bố chính thức về lạm phát trên thế giới phần lớn đều được tính trên cơ sở CPI. Trong luận văn này, tác giả sử dụng chỉ số CPI để tính lạm phát. CPI là chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian. Chỉ số này được tính dựa trên một giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng hóa tiêu dùng, phản ánh chi phí nói chung của một người tiêu dùng điển hình khi mua hàng hóa và dịch vụ.
Giỏ hàng được lựa chọn để tính CPI là không thay đổi trong nhiều năm và mỗi mặt hàng được gắn một trọng số cô định ty lệ thuận với tầm quan trọng tương đối của nó trong ngân sách chỉ tiêu của người tiêu đùng. CPI là chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi để đo lường mức giá chung, đo đó đây cũng là thước đo lạm phát được sử dụng phô biến nhất. Chỉ số CPI được tính theo công thức : Chi phí để mua giỏ hàng hóa thời kỳ t CPI, = x 100% (2.4) Chi phí để mua giỏ hàng hóa thời kỳ cơ sở Chỉ số giá tiêu dùng được sử dụng để tính tỷ lệ lạm phát theo thời kỳ: CPI năm t—CPI năm (t—1) CPI nam (t—1) x 100% (25) Ty lé lam phat nam t = Một điều quan trọng mà chúng ta cần nhận thức là lạm phát không chỉ đơn thuần là sự gia tăng của mức giá mà đó phải là sự gia tăng liên tục trong mức giá. Nếu như chỉ có một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá, thì dường như mức giá chỉ đột ngột bùng lên rồi lại giảm trở lại mức ban đầu ngay sau đó.
Hiện tượng tăng giá tạm thời như vậy không được gọi là lạm phát. Tuy nhiên, trong thực tế mỗi cú sốc thường có ảnh hưởng kéo dài đối với nền kinh tế và do đó có thể gây ra lạm phát. Khái niệm về cán cân thương mại Cán cân thương mại là một thành phần chủ yếu trong cán cân vãng lai, cán cân thương mại còn được gọi là cán cân hữu hình, cán cân thương mại ghi lại những thay đôi trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (năm, quý hoặc tháng), cũng như phản ánh chênh lệch giữa các khoản thu từ xuất khâu hàng hóa và các khoản chỉ từ nhập khâu hàng hóa. Xuất khẩu hàng hóa làm phát sinh khoản thu nên được ghi có (+), ngược lại nhập khâu hàng hóa làm phát sinh khoản chỉ nên được ghi nợ (-) trong cán cân thanh toán của một quốc gia.
Giá hàng hóa được lấy để ghi trong cán cân thương mại là giá FOB (Free On Board), nghĩa là giá trị hàng hóa chỉ tính đến cảng xuất, không bao gồm cước phí vận chuyền và phí bảo hiểm, vi hai loại phí này được hạch toán vào cán cân dịch vụ. TB =EX-IM (2.6) Trong đó: TB là cán cân thương mại, EX là giá trị xuất khâu hàng hóa, IM là giá trị nhập khẩu hàng hóa. Cán cân thương mại của một quốc gia có ba trạng thái là thặng dư, thâm hụt và cân bằng. Cán cân thương mại ở trạng thái thặng dư khi giá trị xuất khâu lớn hơn giá trị nhập khâu.
Ngược lại, cán cân thương mại ở trạng thái thâm hụt khi giá trị xuất khâu nhỏ hơn giá trị nhập khâu.