Chương 1 giới thiệu vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về lạm phát, tỷ giá hối đoái và khung lý thuyết phân tích, đồng thời tóm lược các nghiên cứu thực nghiệm liên quan. Chương 3 giới thiệu tổng quan về lạm phát của Việt Nam và tỷ giá hối đoái VND/USD trong giai đoạn nghiên cứu 1992 – 2012, sau đó trình bày phương pháp nghiên cứu. Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu và cuối cùng là chương 5 trình bày kết luận, kiến nghị rút ra từ đề tài 4 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày các lý thuyết về tỷ giá hối đoái và lạm phát liên quan đến đề tài.
Tiếp đến là giới thiệu khung lý thuyết mà luận văn vận dụng để xây dựng mô hình nghiên cứu. Sau cùng là tóm tắt một số nghiên cứu thực nghiệm có liên quan. Lý thuyết về tỷ giá hối đoái và lạm phát 2. Lý thuyết về tỷ giá hối đoái 2.
Định nghĩa tỷ giá hối đoái Một đồng tiền hay một lượng đồng tiền nào đó đổi được bao nhiêu một đồng tiền khác được gọi là tỷ lệ giá cả trao đổi giữa các đồng tiền với nhau hay gọi tắt là tỷ giá hối đoái hoặc ngắn gọn hơn là tỷ giá. Như vậy, trên bình diện quốc tế, có thể hiểu một cách tổng quát tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữa giá trị các đồng tiền so với nhau. Điều 9 – luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam định nghĩa “tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữa giá trị đồng Việt Nam với giá trị của đồng tiền nước ngoài”. Tỷ giá hối đoái định nghĩa như trên được hiểu là tỷ giá hối đoái danh nghĩa, hay gọi tắt là tỷ giá danh nghĩa, ký hiệu là E.
Khi nói đến tỷ giá hối đoái giữa hai quốc gia, chúng ta mặc định là tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền được định nghĩa theo hai cách: (1) giá của nội tệ tính theo ngoại tệ, hoặc (2) giá của ngoại tệ tính theo nội tệ. Về cơ bản, cách thứ hai chỉ đơn thuần là nghịch đảo của cách thứ nhất, việc sử dụng cách biểu hiện nào thật ra không quan trọng, nhưng chúng ta cần chú ý đến cách yết tỷ giá khi đề cập đến sự gia tăng hay giảm giá trị đồng tiền. Tỷ giá hối đoái thay đổi hàng giờ, hàng phút trong hàng ngày.
Những sự thay đổi này được gọi là tăng giá danh nghĩa hay giảm giá danh nghĩa – nói ngắn gọn là 5 tăng giá (lên giá) hay giảm giá (mất giá). Theo định nghĩa tỷ giá hối đoái là giá của ngoại tệ tính theo nội tệ (luận văn sử dụng định nghĩa này khi nói đến tỷ giá hối đoái) thì sự tăng giá của đồng nội tệ tương ứng giảm tỷ giá hối đoái và ngược lại khi tỷ giá hối đoái tăng thì đồng nội tệ giảm giá. Ngoài ra, điều quan trọng đối với người tiêu dùng và các công ty khi quyết định mua hàng sản xuất trong nước hay hàng ngoại nhập là giá của hàng ngoại tính theo giá hàng nội. Chúng ta gọi giá tương đồng này là tỷ giá hối đoái thực, kí hiệu là ε.
Tỷ giá hối đoái thực được định nghĩa là giá của hàng nước ngoài tính theo giá hàng trong nước. Tỷ giá hối đoái thực không thể quan sát được một cách trực tiếp và bạn sẽ không thể tìm thấy nó trên các tờ báo. Từ thực cho biết chúng ta đang đề cập tới những thay đổi trong giá tương đối của hàng hóa, chứ không phải giá tương đối của những đồng tiền. Một sự tăng giá của đồng nội tệ tương ứng với giảm tỷ giá hối đoái thực, ↓, ngược lại một sự giảm giá đồng nội tệ tương ứng với tăng tỷ giá hối đoái thực ↑.
Giá hàng Hoa Kỳ Giá hàng Hoa Kỳ tính bằng USD tính bằng VNĐ P* E.P* Tỷ giá hối đoái thực: S ε = E.P*/ P Giá hàng Việt Nam tính bằng VND P Trong nền kinh tế thị trường, thực tế cho thấy tồn tại đồng thời nhiều loại tỷ giá khác nhau. Nếu dựa trên tiêu thức là đối tượng quản lý thì có tỷ giá chính thức - tỷ giá được công bố chính thức trên thị trường để làm cơ sở tham chiếu cho các hoạt động giao dịch, kinh doanh, thống kê, tỷ giá thị trường - tỷ giá được hình thành thông qua các giao dịch cụ thể của các thành viên trên thị trường. Nếu tỷ giá hình thành theo quan hệ cung cầu trên thị trường tự do ngoài hệ thống ngân hàng và 6 không được nhà nước thừa nhận chính thức thì gọi là tỷ giá thị trường tự do, hay còn gọi là tỷ giá chợ đen. Dựa trên kỹ thuật giao dịch thì cơ bản có hai loại tỷ giá là tỷ giá mua/bán theo ngày và tỷ giá mua/bán kỳ hạn.
Ngoài ra còn có các tỷ giá khác như tỷ giá mua vào, tỷ giá bán ra, tỷ giá tiền mặt, tỷ giá chuyển khoản, tỷ giá chéo, tỷ giá danh nghĩa đa phương, tỷ giá thực đa phương. Vai trò của tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế mở Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế phát sinh từ nhu cầu trao đổi hàng hóa dịch vụ, cũng như hoạt động tài chính, tiền tệ giữa các quốc gia. Tỷ giá thực chất là một loại giá cả, song là loại giá đặc biệt, giá cả quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế, nó tác động đến mọi mặt của nền kinh tế và ngược lại. Tỷ giá hối đoái là công cụ vĩ mô quan trọng để điều tiết cán cân thương mại theo mục tiêu đã định trước của một quốc gia.
Cụ thể, tỷ giá hối đoái và những biến động của nó ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả của hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu. Khi tỷ giá hối đoái có sự giảm sút, có nghĩa đồng nội tệ tăng giá sẽ làm giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu, khi đó cán cân thương mại sẽ xấu đi. Ngược lại, nếu tỷ giá hối đoái tăng lên, có nghĩa đồng nội tệ giảm giá sẽ giúp tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu, từ đó cán cân thương mại sẽ được cải thiện. Do đó, điều chỉnh tăng tỷ giá hối đoái hay phá giá đồng nội tệ sẽ hỗ trợ cho chính sách hướng ngoại, khuyến khích xuất khẩu từ đó cải thiện cán cân thương mại, tăng dự trữ ngoại tệ, nâng cao hiệu quả sản xuất của quốc gia.
Tuy nhiên, theo lý thuyết Marshall – Lerner thì không phải bao giờ việc phá giá cũng làm tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu để cải thiện cán cân thương mại. Điều kiện Marshall – Lerner chỉ ra là khi nào độ co giãn theo giá của đường cung xuất khẩu cộng với độ co giãn theo giá của đường cầu nhập khẩu lớn hơn 1 (EDnk + ESxk > 1) thì phá giá mới giúp cải thiện cán cân thương mại. Tỷ giá hối đoái còn tác động đến các khía cạnh khác của nền kinh tế như lạm phát, sức cạnh tranh của hàng trong nước, năng lực sản xuất của quốc gia, công ăn 7 việc làm hay thất nghiệp. Chẳng hạn, với mức tỷ giá 1 USD = 21.000 VND của năm 2014 cao hơn mức 1 USD = 18.000 VND của năm 2010, tức Việt Nam đồng đã giảm giá và nếu giả định giá thế giới là không đổi, thì không chỉ có xe hơi khi nhập khẩu tính bằng VND tăng giá mà tất cả các hàng hóa nhập khẩu đều rơi vào tình trạng tương tự.
Điều này tất yếu sẽ dẫn đến nguy cơ làm mặt bằng giá cả trong nước tăng lên hay nói cách khác là gây ra lạm phát hoặc gia tăng lạm phát. Bên cạnh đó, nếu có sự thay thế giữa sản phẩm tiêu dùng, yếu tố đầu vào nhập khẩu và sản xuất trong nước thì sự tăng giá của giá hàng nhập khẩu do tỷ giá hối đoái tăng sẽ giúp tăng sức cạnh tranh của hàng sản xuất trong nước, mở rộng cầu hàng nội địa từ đó giúp phát triển sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, sản lượng quốc gia tăng lên. Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm, nếu các yếu tố khác là không đổi thì lạm phát sẽ giảm, nhưng khả năng cạnh tranh của nhiều ngành sản xuất trong nước cũng suy giảm, thất nghiệp tăng lên. Dưới góc độ lý thuyết, khi tỷ giá hối đoái tăng đồng nghĩa với phá giá đồng nội tệ (hay được “điều chỉnh” ở Việt Nam), nó sẽ tác động đến lạm phát trong nước.
Nguyên nhân là do khi tỷ giá hối đoái thay đổi sẽ dẫn tới sự thay đổi về giá hàng nhập khẩu, nhu cầu đối với hàng xuất nhập khẩu, tổng cầu, chính sách tiền tệ từ đó tác động đến lạm phát. Chẳng hạn thông qua kênh nhập khẩu, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì khi tỷ giá hối đoái tăng sẽ làm tăng giá hàng nhập khẩu, nếu hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất thì nó sẽ làm tăng chi phí sản xuất, điều này rất có thể dẫn đến quyết định tăng giá bán sản phẩm của doanh nghiệp, nếu hàng nhập khẩu là hàng tiêu dùng, thì giá của hàng hóa nhập khẩu tiêu dùng tính bằng đồng nội tệ cũng tăng lên. Kết quả là lạm phát xảy ra. Ngoài ra, sự giảm giá đồng nội tệ làm cho hàng nhập khẩu đắt hơn một cách tương đối, điều này có nghĩa là với mức thu nhập cho trước, người dân - những người mà bây giờ phải trả nhiều tiền hơn để mua hàng ngoại nhập bị nghèo đi.
Cơ chế này được cảm nhận sâu sắc ở các quốc gia trải qua một đợt phá giá đồng nội tệ mạnh mẽ. Do đó, chính phủ quốc gia nào cố gắng thực hiện phá giá thì nguy cơ sẽ 8 đối mặt với các cuộc đình công và biểu tình, vì nhiều người phản ứng lại do cuộc sống khó khăn hơn khi giá hàng nhập khẩu cao hơn trước nhiều. Một giải pháp thay thế cho đình công, biểu tình là yêu cầu và đạt được tăng lương. Nhưng, nếu tiền lương tăng, thì có thể giá hàng trong nước cũng sẽ tiếp tục tăng.
Lạm phát thêm trầm trọng (Blaucliard, 2004). Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, tỷ giá hối đoái gắn kết chặt chẽ với dòng vốn đầu tư. Tỷ giá ổn định là một điều kiện quan trọng để người dân trong nước đầu tư vốn vào các công cụ tài chính dài hạn thay vì sở hữu các ngoại tệ mạnh và thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp. Điều này giúp mở rộng đầu tư của nền kinh tế, NHTƯ gia tăng lượng ngoại tệ dự trữ.