Chương 1: Giới thiệu Giới thiệu chung về đề tài bao gồm lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu,câu hỏi nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Trong chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về tỷ giá hối đoái, du lịch, lượng cầu khách du lịch. Giới thiệu, phân tích mối quan hệ giữa các biến số vĩ mô này. Dựa trên kết quả của các nghiên cứu trước, xây dựng mô hình kinh tế lượng và đề xuất các biến trong mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Đề cập đến phương pháp nghiên cứu bao gồm trình bày về nguồn dữ liệu, các giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu 5 Luận văn thạc sỹ kinh tế Trình bày thống kê mô tả, kết quả phân tích hồi quy dữ liệu bảng về tác động của tỷ giá hối đoái đến lượng cầu khách du lịch nước ngoài tại các nước đang phát triển. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Trong phần này rút ra kết luận từ kết quả nghiên cứu, hàm ý chính sách về tác động của tỷ giá hối đoái đến lượng cầu khách du lịch nước ngoài tại các nước đang phát triển. Trình bày các hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 6 Luận văn thạc sỹ kinh tế CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm về du lịch 2.1 Du lịch Từ “du lịch” bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Anh “tour” được tạo ra ở Anh vào khoảng những năm 1700 để chỉ chuyến đi.
Khái niệm "du lịch" lần đầu tiên được Guyer và Freuler đưa ra trong cuốn sách "Đóng góp vào thống kê du lịch" vào năm 1895. Guyer và Freuler,1895 trích bởi Butnaru và Timu, 2011) “Du lịch là một hiện tượng độc đáo của thời hiện đại, tùy thuộc vào nhu cầu ngày càng tăng của người dân về hồi phục sức khỏe và thay đổi môi trường, nuôi dưỡng cảm giác thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên với niềm tin thiên nhiên mang đến hạnh phúc cho con người, giúp các quốc gia và các cộng đồng tiếp cận kết quả của sự phát triển của thương mại, công nghiệp, phương tiện vận tải”. Theo định nghĩa du lịch của tổ chức du lịch thế giới (UNWTO,2007) “Du lịch là một hiện tượng xã hội, văn hóa, kinh tế thể hiện thông qua sự chuyển động của con người đến những địa điểm ngoài cuộc sinh sống thường xuyên của họ vì mục tiêu cá nhân hay vì công việc. Những người này được gọi là khách du lịch và bao gồm các hoạt động liên quan đến chi tiêu của khách du lịch." Michael Coltman (1991, dẫn theo Đỗ Ngọc Quyên, 2013), đưa ra định nghĩa:“Du lịch là sự kết hợp và tác động qua lại của 4 nhóm yếu tố trong quá trình phục vụ khách du lịch gồm: khách du lịch, nhà cung cấp dịch vụ du lịch, người dân địa phương và chính quyền nơi đón khách du lịch”.
Cũng theo Hunziker và Krapf (1942) định nghĩa “ du lịch là một tập hợp các mối quan hệ và hiện tượng xuất phát từ việc di chuyển và lưu trú của mọi người ra khỏi nhà của họ, miễn là việc lưu trú và di chuyển không dẫn đến một cuộc định cư lâu dài hoặc kết quả từ bất kỳ hoạt động sinh lợi nào.” Dưới góc độ chính quyền địa phương “Du lịch là tổng hợp các hoạt động từ tạo lập và tổ chức các điều kiện hành chính, cơ sở hạ tầng, kỹ thuật đến quản lý các 7 Luận văn thạc sỹ kinh tế hoạt động thương mại du lịch tại địa phương nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho hành trình và thời gian lưu trú của khách du lịch, đồng thời tối ưu hóa các lợi thế của địa phương như tăng thu nhập ngân sách, thúc đẩy cán cân thanh toán, nâng cao mức sống của người dân.” theo Trần Văn Đính và Nguyễn Thị Minh Hoà (2008). Luật Du lịch Việt Nam (2005) định nghĩa “du lịch là hoạt động liên quan đến việc di chuyển của người dân ra khỏi nơi cư trú để đáp ứng nhu cầu tham quan, học tập, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định.” Dựa trên những định nghĩa và dưới góc độ của những nhân tố tham gia vào quá trình du lịch, tác giả rút ra những tóm tắt chung về định nghĩa du lịch như sau: Du lịch là tập hợp hoạt động kinh tế xã hội trong đó có sự tác động qua lại của những người tham gia vào dịch vụ du lịch và tương tác với khách du lịch, người dân địa phương và chính quyền tiếp nhận du khách. Điều này cho phép khách du lịch đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần tại nơi họ đến du lịch, các doanh nghiệp có thể được hưởng lợi, và tạo điều kiện việc làm cho người dân, địa phương có dịp quảng bá văn hóa.2 Khách du lịch và khách du lịch quốc tế Theo tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO (Trích bởi Vienthongke, 2012) khách du lịch được chia làm hai loại: khách nội địa và khách quốc tế. Khách quốc tế: bất kỳ một người nào đó đi ra khỏi nước người đó cư trú thường xuyên và ngoài môi trường sống thường xuyên của họ với thời gian liên tục ít hơn 12 tháng với mục đích của chuyến đi là không phải đến đó để dược nhận thù lao (hay nói cách khác là không phải để kiếm sống).
Khách nội địa: bất kỳ một người nào đó đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của họ và trong phạm vi nước sở tại với thời gian liên tục dưới 12 tháng và mục đích của chuyến đi là không phải đến đó để được nhận thù lao (hay nói cách khác là không phải để kiếm sống). Theo quy định tại Khoản 2, Điều 3, Luật Du lịch 2017 của Việt Nam có quy định về khái niệm: “ khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến.” 8 Luận văn thạc sỹ kinh tế Theo Chỉ số Phát triển của Ngân hàng Thế giới (WDI, 2017), lượng khách du lịch quốc tế được định nghĩa là khách qua đêm, tức là số lượng khách đi du lịch nước ngoài trong thời gian không quá 12 tháng và mục đích chính là đến thăm không phải là công việc. Theo ILO (2011), khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. Khách du lịch quốc tế là những khách lưu trú ít nhất một đêm ở ngoài đất nước mình.
Do đó, nhằm phân biệt sự khác nhau giữa khách du lịch nước ngoài và khách du lịch là khách du lịch nước ngoài đến thăm hoặc lưu trú ít nhất 24 giờ tại các quốc gia khác nơi mình thường xuyên cư trú với mục đích là đến thăm quan.3 Phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút khách du lịch quốc tế Theo Frechtling, 1996 (trích bởi Kosnan và Ismail, 2012) đã có nghiên cứu chỉ ra rằng việc nghiên cứu các yếu tố thu hút khách du lịch nước ngoài được giải thích nhân tố từ phía cung, phía cầu và một số nhân tố cản trở khác. Các yếu tố này hoạt động có hiệu quả khi tăng lượng cầu khách du lịch quốc tế hoặc làm thu nhập của một quốc gia tăng lên 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới cầu Đây là những yếu tố khách quan, xuất phát từ phía du khách, mà quốc gia đến mong muốn thu hút khách du lịch quốc tế nhưng không thế tác động trực tiếp lên được. Các nghiên cứu tập trung vào việc điều tra định lượng các yếu tố nhu cầu để xác định tầm quan trọng của các yếu tố này đối với du lịch quốc tế của các nước nghiên cứu, như trong nghiên cứu của Kosnan và Ismail (2012), nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của khách du lịch nước ngoài tại Malaysia, Zhang và Jensen (2007), hay nghiên cứu Bashagi và Muchapondwa (2009) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự đến của khách du lịch nước ngoài cho trường hợp Tanzania. Quốc gia có dân số đông: nhằm thu hút các hoạt động của khách du lịch quốc tế thì cần tập trung phần lớn vào các quốc gia nơi có dân số cao như Trung Quốc, 9 Luận văn thạc sỹ kinh tế Hoa Kỳ, Nga, Hàn Quốc.
Trong nghiên cứu của Kosnan và Ismail (2012) cũng đã chỉ ra rằng một quốc gia có dân số càng lớn thì càng có nhiều du khách quốc tế đến du lịch. Thu nhập bình quân đầu người của quốc gia đến du lịch Nghiên cứu của Chumni (2001) chỉ ra rằng khi mức sống vật chất cao thì nhu cầu du lịch được hình thành, họ mới có nhu cầu đi du lịch và tự trang trải các chi phí như chi phí đi lại, tham quan mua sắm. Chỉ tiêu dùng để đánh giá mức sống bình quân của người dân tại quốc gia đi du lịch là thu nhập bình quân đầu người của quốc gia đó theo Bashagi và Muchapondwa (2009).2 Các yếu tố liên quan tới cung Là các yếu tố liên quan trực tiếp tới quốc gia đó, đây là yếu tố kéo là yếu tố thu hút khách du lịch quốc tế đến một điểm đến du lịch thông thường được phân làm 03 nhóm chính: Nhóm các yếu tố về tài nguyên quốc gia, con người, văn hóa, cảnh quan thiên nhiên. Luật Du lịch số 09/2017 / QH14 quy định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên và giá trị văn hóa tạo thành cơ sở của sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch.
Để đáp ứng nhu cầu du lịch của bạn. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hoá. Trong nghiên cứu của Yang và cộng sự (2011), số lượng xếp hạng của một số di tích là tài nguyên du lịch tự nhiên quốc gia và văn hóa của tỉnh Tứ Xuyên. Nhóm yếu tố về du lịch Thu nhập bình quân đầu người của quốc gia du khách: Theo Hanafiah và Harun (2010) đã nghiên cứu nhu cầu du lịch ở Malaysia dựa trên các yếu tố kinh tế chính như thu nhập, kết quả chỉ ra rằng có mối quan hệ chặt chẽ giữa các yếu tố kinh tế chủ chốt và quyết định đi du lịch của khách du lịch.
Yếu tố quan trọng nhất là thu nhập ảnh hưởng đến các việc đi tham quan du lịch. Munόz và Amaral (2000) chỉ ra lý thuyết nhu cầu kinh tế cho thấy khi thu nhập của quốc gia tăng lên, nhiều cư dân 10 Luận văn thạc sỹ kinh tế của quốc gia đó có thể đủ khả năng đến thăm các nước khác và do đó lượng khách du lịch là một hàm số dương của thu nhập.