CHƯƠNG 1 CÁC NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ ERPT 1. Tiếp cận về lý thuyết “Truyền dẫn tỷ giá hối đoái” 1. Truyền dẫn tỷ giá hối đoái (Exchange rate pass-through) là gì? Tùy theo mục đích nghiên cứu mà có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “truyền dẫn tỷ giá hối đoái”. Khi nghiên cứu về vấn đề “truyền dẫn tỷ giá hối đoái” tại các nước công nghiệp, các nhà kinh tế học thường chú ý mức biến động của tỷ giá hối đoái lên chỉ số giá nhập khẩu và mức ấn định giá bán của từng lĩnh vực sản xuất.
Mann ( 1986) nghiên cứu về mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái lên chỉ số giá nhập khẩu của Hoa Kỳ và xem xét mức tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái đến việc thiết lập giá bán của một số lĩnh vực sản xuất tại Hoa Kỳ. Goldberg and Knetter (1997) trong nghiên cứu của mình đã định nghĩa truyền dẫn tỷ giá hối đoái là phần trăm thay đổi của giá nhập khẩu (tính theo đồng nội tệ) khi tỷ giá hối đoái thay đổi. Jonathan McCarthy (2000) thì xem xét khái niệm truyền dẫn tỷ giá hối đoái dưới góc độ là sự tác động của biến động tỷ giá hối đoái và giá nhập khẩu đến tỷ lệ lạm phát trong nước. Theo Hakan Kara (2005) sở dĩ có sự khác nhau như trên là vì các nước đang phát triển thường được xem là các nền kinh tế mở và quy mô nhỏ nên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 quyền áp đặt giá trên thị trường là rất hạn chế.
Điều đó được cho là thay đổi tỷ giá sẽ tác động mạnh đến giá hàng hóa nhập khẩu, khiến cho các chỉ số giá trong nước trở nên rất nhạy cảm đối với sự thay đổi của tỷ giá danh nghĩa. Tiêu biểu Ito và Sato (2006) trong nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá hối đoái tại các nước Châu Á chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng 1997-1998 và Rudrani Bhattacharya (2008) trong nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá hối đoái tại Ấn Độ xem xét tác động của biến động tỷ giá đến các chỉ số giá trong nước. Việt Nam nằm trong nước đang phát triển nên luận văn này sẽ định nghĩa khái niệm truyền dẫn tỷ giá theo như các nghiên cứu thực nghiệm áp dụng cho các nước đang phát triển tức là: “Truyền dẫn tỷ giá hối đoái là phần trăm thay đổi của các chỉ số giá trong nước khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa thay đổi một phần trăm”. Các chỉ số giá trong nước bao gồm chỉ số giá nhập khẩu (IMP) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
Nếu tỷ giá thay đổi 1% làm cho chỉ số giá cả thay đổi 1% thì sự truyền dẫn được gọi là hoàn toàn (complete pass-through), và nếu nhỏ hơn 1% thì sẽ được gọi là sự truyền dẫn không hoàn toàn (incomplete pass-through). Biến động của tỷ giá truyền dẫn vào các chỉ số giá như thế nào? Biến động tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến các chỉ số giá trong nước qua các bước sau: - Bước 1: Đầu tiên, biến động tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng đến giá cả nhập khẩu tức là ảnh hưởng đến chỉ số giá nhập khẩu (IMP). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Bước 2: Nếu hàng hóa nhập khẩu được dùng vào mục đích tiêu dùng cuối cùng, chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng. Nếu hàng hóa nhập khẩu được dùng làm nguyên nhiên liệu đầu vào thì chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá sản xuất và thông qua đó ảnh hưởng lên chỉ số giá tiêu dùng.
Nguyên nhân của những khác biệt về ERPT Nhiều kiểm định thực nghiệm cho thấy rằng ERPT có sự khác biệt tùy thuộc vào mỗi nước và thời gian, cũng như giá cả ở những mắc xích của dây chuyền sản xuất (giá nhập khẩu, giá nhà sản xuất và giá tiêu dùng) và giá cả của các ngành trong phạm vi một quốc gia. Trên phạm vi ngành, ERPT phụ thuộc vào chiến lược định giá của công ty, đến lượt nó chính sách định giá của công ty lại phụ thuộc vào cơ cấu ngành. Nhiều nghiên cứu gần đây tập trung vào nghiên cứu chiến lược định giá và thay đổi mức lợi nhuận của công ty nhằm đối phó với sự thay đổi của tỷ giá. Cơ sở lý luận của đa số các nghiên cứu này là công trình nghiên cứu của Donbursch (1987), trong đó những khác biệt về ERPT được lý giải là do mức độ tập trung hóa của thị trường, mức độ thâm nhập của hàng hóa nhập khẩu và tính thay thế của hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa sản xuất trong nước.
Donbursch cho rằng các ngành có tính cạnh tranh càng cao (lợi nhuận biên nhỏ) và tỷ trọng hàng nhập khẩu trong tổng doanh thu bán hàng càng lớn thì ERPT càng lớn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Trên phạm vi quốc gia, ERPT phụ thuộc vào ba nhân tố chính: độ co dãn tương đối của cầu và cung, môi trường kinh tế vi mô và các điều kiện kinh tế vĩ mô (Philips, 1988). Độ co dãn tương đối của cung và cầu Trong điều kiện không phát sinh các cơn sốc khác, độ co dãn của cầu và cung theo giá là nhân tố quyết định lớn của ERPT. Đối với hàng hóa xuất khẩu, mức độ của ERPT sẽ càng lớn nếu độ co dãn của cầu càng lớn và độ co dãn của cung càng thấp.
Đối với hàng hóa nhập khẩu thì ngược lại, mức độ của ERPT sẽ càng lớn nếu độ co dãn của cầu càng nhỏ và độ co dãn của cung càng lớn (Spitaller, 1980). Do đó, ERPT phải là toàn phần (bằng 1) trong một nền kinh tế nhỏ, bởi vì cầu đối với xuất khẩu là co dãn tuyệt đối và cung nhập khẩu là co dãn tuyệt đối do quốc gia đó không có khả năng tác động đến thị trường thế giới. Môi trường kinh tế vi mô Nếu như xem xét các mô hình kinh tế vi mô tỷ trọng nhập khẩu càng lớn thì ERPT đến giá trong nước càng mạnh. Knetter (1993) kết luận rằng ngành nghề, chứ không phải quốc tịch của công ty mới ảnh hưởng nhiều hơn đến hành vi định giá của công ty.
Như vậy những khác biệt về ERPT giữa các quốc gia có thể là do những khác biệt về cơ cấu các ngành ở các quốc gia đó. Nếu như công ty ít quan tâm đến chiến lược định giá trên thị trường nhỏ, ERPT sẽ mạnh hơn trong các nền kinh tế nhỏ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các điều kiện kinh tế vĩ mô Mann (1986) trong công trình nghiên cứu của mình, đã khảo sát một số biến kinh tế vĩ mô có thể ảnh hưởng đến độ lớn của ERPT.
Ông cho rằng, tỷ giá thường xuyên biến động có thể làm giảm ERPT bởi vì các nhà nhập khẩu có thể thiên về điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận hơn là giá cả. Tuy nhiên, nếu công ty kỳ vọng rằng sự thay đổi của tỷ giá có tính chất lâu dài, chứ không phải mang tính chất tạm thời thì nhiều khả năng công ty sẽ thay đổi giá cả hàng hóa hơn là tỷ suất lợi nhuận nên dẫn đến ERPT sẽ cao. Vì vậy, ERPT sẽ cao hơn ở những nước nơi mà có những thay đổi tỷ giá ổn định hơn. Một biến kinh tế vĩ mô khác có ảnh hưởng đến độ lớn ERPT, đó là tính ổn định của tổng cầu (Mann, 1986).
Những thay đổi của tổng cầu cùng với dao động của tỷ giá ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận của nhà nhập khẩu trên thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, đồng thời làm giảm ERPT. Vì vậy, ERPT phải thấp hơn ở các quốc gia có tổng cầu biến động nhiều hơn. Đồng tiền định giá hàng hóa cũng ảnh hưởng đến ERPT. Một nước với đồng tiền quốc gia kém ổn định có tỷ lệ nhập khẩu khá lớn được định giá bằng ngoại tệ thì việc yết giá bằng ngoại tệ cũng sẽ có lợi hơn đối với các công ty chỉ kinh doanh trên thị trường nội địa.
Trong tình huống này, tỷ giá có những tác động không chỉ đối với hàng hóa nhập khẩu, mà còn đối với hàng hóa chỉ sản xuất và tiêu dùng trong nước (non-tradables), và ERPT sẽ toàn phần (Tsesliuk, 2002). Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ERPT giảm dần khi tình hình kinh tế vĩ mô ổn định hơn, cạnh tranh tăng lên và hành vi của các công ty LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 hướng đến việc tối đa hóa thị phần của mình. Theo kết luận của Dubravko & Marc (2002), ERPT đã giảm từ những năm 90 ở các nước đang phát triển, có thể là do các điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định hơn và kết quả của các cuộc cải cách được thực hiện. Yếu tố vĩ mô được cho ảnh hưởng đến độ lớn của mức truyền dẫn tỷ giá là mức phụ thuộc hàng nhập khẩu (được đo lường bằng tỷ lệ giá trị nhập khẩu/GDP) của một quốc gia; nếu một quốc gia có mức phụ thuộc hàng hóa nhập khẩu càng cao thì mức độ truyền dẫn tỷ giá càng lớn.
Điều này đã được khẳng định qua các nghiên cứu của McCarthy (2000), Katherine H. Gagnon và Jane Ihrig (2004) trong nghiên cứu của mình cho thấy rằng ở các nước thực thi chính sách lạm phát mục tiêu thì ERPT là thấp hơn hẳn so với các nước khác; nguyên nhân là do những nhà sản xuất và phân phối khi biết Chính phủ thực thi chính sách lạm phát mục tiêu thì sẽ e ngại hơn trong việc điều chỉnh tăng giá bán sản phẩm mà thay vào đó họ chấp nhận giảm lợi nhuận biên (trong một giới hạn nhất định) của mình dù đồng tiền nội địa có bị điều chỉnh mất giá. Một nhân tố khác giải thích những khác biệt về ERPT giữa các quốc gia có thể là những khác biệt trong mức lạm phát. Nhiều nghiên cứu chứng minh mức truyền dẫn tỷ giá là thấp đối với các quốc có môi trường lạm phát ban đầu thấp, ngược lại ở các quốc giá có môi trường lạm phát cao thì mức truyền dẫn tỷ giá sẽ lớn hơn, tiêu biểu là nghiên cứu của Taylor (2000) đối với các nước phát triển, Michele Ca’ Zorzi (2007) đối với các nước đang phát triển và Anderson (2005) đối với các nền kinh tế nhỏ và có độ mở cao.
Giải LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.