Nghiên cứu tác động của tỷ giá hối đoái đến lạm phát của Việt Nam

Nghiên cứu tác động của tỷ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam trong luận văn thạc sĩ UEH, cung cấp cái nhìn sâu sắc về kinh tế.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

101
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CÁC NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ ERPT

1.1. Tiếp cận về lý thuyết “Truyền dẫn tỷ giá hối đoái”

1.2. Truyền dẫn tỷ giá hối đoái (Exchange rate pass-through) là gì?

1.3. Biến động của tỷ giá truyền dẫn vào các chỉ số giá như thế nào?

1.4. Nguyên nhân của những khác biệt về ERPT

1.4.1. Độ co dãn tương đối của cung và cầu

1.4.2. Môi trường kinh tế vi mô

1.4.3. Các điều kiện kinh tế vĩ mô

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU

2.1. Phương pháp nghiên cứu chung

2.2. Mô hình thực nghiệm

2.3. Các bước thực hiện trong quá trình thực nghiệm mô hình Var

2.4. Tỷ giá hối đoái

2.5. Độ lệch sản lượng (GAP)

2.6. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

2.7. Chỉ số giá nhập khẩu (MPI)

2.8. Tín dụng nội địa (Credit)

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CHO VIỆT NAM

3.1. Khái quát về tình hình kinh tế và phân tích thực trạng của tỷ giá hối đoái, lạm phát của Việt Nam

3.2. Môi trường lạm phát cao của Việt Nam

3.3. Diễn biến lạm phát Việt Nam cụ thể qua các thời kỳ

3.4. Các nguyên nhân gây ra lạm phát tại Việt Nam

3.5. Thực trạng tỷ giá hối đoái tại Việt Nam

3.6. Cơ chế tỷ giá của Việt Nam theo thời gian, 2001-2012

3.7. Việt Nam đồng đang được định giá cao hay thấp?

3.8. Tỷ giá hối đoái và chỉ số giá nhập khẩu

3.9. Tỷ giá hối đoái và chỉ số giá tiêu dùng

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

4.1. Kiểm định nghiệm đơn vị

4.2. Kiểm định độ trễ tối ưu của mô hình

4.3. Đo lường cú sốc bằng mô hình VAR

4.3.1. Hàm phản ứng xung (Impulse Response Test) và phân rã phương sai (Variance Decomposition)

4.3.2. Hàm phản ứng xung (Impulse Response Test)

4.3.3. Phản ứng của các biến đối với cú sốc tỷ giá hối đoái

4.3.4. Phản ứng của các biến trước sự thay đổi giá xăng dầu

4.3.5. Phản ứng của các biến trước động thái mở rộng tiền tệ

4.3.6. Phản ứng của các biến trước biến động của Độ lệch sản lượng

4.3.7. Phân tích phân rã phương sai (Variance Decomposition)

4.4. Kiểm định phần dư

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC BẢNG VẼ

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của tỷ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam

Tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Sự biến động của tỷ giá hối đoái không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu mà còn tác động trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và lạm phát. Nghiên cứu này sẽ phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát tại Việt Nam, từ đó đưa ra những nhận định và khuyến nghị cho chính sách kinh tế.

1.1. Tỷ giá hối đoái và lạm phát Khái niệm và mối liên hệ

Tỷ giá hối đoái là giá trị của một đồng tiền so với đồng tiền khác. Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá hàng hóa và dịch vụ. Mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát thường được thể hiện qua hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT), trong đó sự thay đổi của tỷ giá có thể dẫn đến sự thay đổi của giá cả trong nước.

1.2. Tình hình lạm phát tại Việt Nam trong những năm gần đây

Lạm phát tại Việt Nam đã có những biến động mạnh mẽ trong những năm qua, đặc biệt là trong giai đoạn 2008-2012. Tỷ lệ lạm phát cao nhất ghi nhận lên đến 19,89% vào năm 2008, cho thấy sự nhạy cảm của nền kinh tế với các yếu tố bên ngoài, bao gồm cả tỷ giá hối đoái.

II. Vấn đề và thách thức trong việc nghiên cứu tác động của tỷ giá hối đoái đến lạm phát

Việc nghiên cứu tác động của tỷ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam gặp phải nhiều thách thức. Đầu tiên, dữ liệu về tỷ giá và lạm phát không luôn sẵn có và có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Thứ hai, sự biến động của tỷ giá hối đoái có thể bị tác động bởi các chính sách kinh tế vĩ mô, làm cho việc xác định mối quan hệ trở nên phức tạp.

2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái tại Việt Nam

Tỷ giá hối đoái tại Việt Nam chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như chính sách tiền tệ, tình hình kinh tế vĩ mô, và các yếu tố bên ngoài như giá dầu thế giới. Sự biến động của các yếu tố này có thể dẫn đến sự thay đổi nhanh chóng trong tỷ giá hối đoái.

2.2. Thách thức trong việc đo lường tác động của tỷ giá đến lạm phát

Việc đo lường tác động của tỷ giá hối đoái đến lạm phát gặp khó khăn do sự tồn tại của nhiều yếu tố đồng thời ảnh hưởng đến giá cả. Các mô hình kinh tế cần phải được xây dựng một cách cẩn thận để có thể phản ánh đúng mối quan hệ này.

III. Phương pháp nghiên cứu tác động của tỷ giá hối đoái đến lạm phát

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích hồi quy và mô hình VAR để đo lường tác động của tỷ giá hối đoái đến lạm phát. Các dữ liệu được thu thập từ Tổng cục Thống kê Việt Nam và Quỹ Tiền tệ Quốc tế trong giai đoạn từ 2001 đến 2012.

3.1. Mô hình VAR trong nghiên cứu tác động

Mô hình VAR (Vector Autoregressive) cho phép phân tích mối quan hệ giữa nhiều biến số kinh tế cùng một lúc. Trong nghiên cứu này, mô hình VAR sẽ được sử dụng để xác định mức độ tác động của tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá tiêu dùng và lạm phát.

3.2. Dữ liệu và nguồn thông tin sử dụng

Dữ liệu được thu thập từ các nguồn đáng tin cậy như Tổng cục Thống kê Việt Nam và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Các chỉ số như CPI, tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu lực (NEER) và các yếu tố kinh tế vĩ mô khác sẽ được sử dụng trong phân tích.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ giá hối đoái có tác động đáng kể đến lạm phát tại Việt Nam. Sự biến động của tỷ giá hối đoái có thể dẫn đến sự thay đổi trong chỉ số giá tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng đến mức sống của người dân.

4.1. Tác động của tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá tiêu dùng

Nghiên cứu chỉ ra rằng khi tỷ giá hối đoái tăng, chỉ số giá tiêu dùng cũng có xu hướng tăng theo. Điều này cho thấy sự nhạy cảm của nền kinh tế Việt Nam đối với biến động tỷ giá.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào chính sách kinh tế

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để điều chỉnh các chính sách tiền tệ và tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát. Việc hiểu rõ mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định đúng đắn hơn.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về tác động của tỷ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam là cần thiết trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập. Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp hiểu rõ hơn về mối quan hệ này mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách.

5.1. Tóm tắt các phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái có tác động mạnh mẽ đến lạm phát tại Việt Nam. Sự biến động của tỷ giá hối đoái cần được theo dõi chặt chẽ để có thể đưa ra các biện pháp kịp thời.

5.2. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Trong tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng. Việc áp dụng các mô hình kinh tế hiện đại sẽ giúp cải thiện độ chính xác của các dự báo.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh nghiên cứu tác động của tỷ giá hối đoái đến lạm phát của việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CÁC NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ ERPT 1. Tiếp cận về lý thuyết “Truyền dẫn tỷ giá hối đoái” 1. Truyền dẫn tỷ giá hối đoái (Exchange rate pass-through) là gì? Tùy theo mục đích nghiên cứu mà có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “truyền dẫn tỷ giá hối đoái”. Khi nghiên cứu về vấn đề “truyền dẫn tỷ giá hối đoái” tại các nước công nghiệp, các nhà kinh tế học thường chú ý mức biến động của tỷ giá hối đoái lên chỉ số giá nhập khẩu và mức ấn định giá bán của từng lĩnh vực sản xuất.

Mann ( 1986) nghiên cứu về mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái lên chỉ số giá nhập khẩu của Hoa Kỳ và xem xét mức tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái đến việc thiết lập giá bán của một số lĩnh vực sản xuất tại Hoa Kỳ. Goldberg and Knetter (1997) trong nghiên cứu của mình đã định nghĩa truyền dẫn tỷ giá hối đoái là phần trăm thay đổi của giá nhập khẩu (tính theo đồng nội tệ) khi tỷ giá hối đoái thay đổi. Jonathan McCarthy (2000) thì xem xét khái niệm truyền dẫn tỷ giá hối đoái dưới góc độ là sự tác động của biến động tỷ giá hối đoái và giá nhập khẩu đến tỷ lệ lạm phát trong nước. Theo Hakan Kara (2005) sở dĩ có sự khác nhau như trên là vì các nước đang phát triển thường được xem là các nền kinh tế mở và quy mô nhỏ nên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 quyền áp đặt giá trên thị trường là rất hạn chế.

Điều đó được cho là thay đổi tỷ giá sẽ tác động mạnh đến giá hàng hóa nhập khẩu, khiến cho các chỉ số giá trong nước trở nên rất nhạy cảm đối với sự thay đổi của tỷ giá danh nghĩa. Tiêu biểu Ito và Sato (2006) trong nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá hối đoái tại các nước Châu Á chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng 1997-1998 và Rudrani Bhattacharya (2008) trong nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá hối đoái tại Ấn Độ xem xét tác động của biến động tỷ giá đến các chỉ số giá trong nước. Việt Nam nằm trong nước đang phát triển nên luận văn này sẽ định nghĩa khái niệm truyền dẫn tỷ giá theo như các nghiên cứu thực nghiệm áp dụng cho các nước đang phát triển tức là: “Truyền dẫn tỷ giá hối đoái là phần trăm thay đổi của các chỉ số giá trong nước khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa thay đổi một phần trăm”. Các chỉ số giá trong nước bao gồm chỉ số giá nhập khẩu (IMP) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI).

Nếu tỷ giá thay đổi 1% làm cho chỉ số giá cả thay đổi 1% thì sự truyền dẫn được gọi là hoàn toàn (complete pass-through), và nếu nhỏ hơn 1% thì sẽ được gọi là sự truyền dẫn không hoàn toàn (incomplete pass-through). Biến động của tỷ giá truyền dẫn vào các chỉ số giá như thế nào? Biến động tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến các chỉ số giá trong nước qua các bước sau: - Bước 1: Đầu tiên, biến động tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng đến giá cả nhập khẩu tức là ảnh hưởng đến chỉ số giá nhập khẩu (IMP). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Bước 2: Nếu hàng hóa nhập khẩu được dùng vào mục đích tiêu dùng cuối cùng, chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng. Nếu hàng hóa nhập khẩu được dùng làm nguyên nhiên liệu đầu vào thì chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá sản xuất và thông qua đó ảnh hưởng lên chỉ số giá tiêu dùng.

Nguyên nhân của những khác biệt về ERPT Nhiều kiểm định thực nghiệm cho thấy rằng ERPT có sự khác biệt tùy thuộc vào mỗi nước và thời gian, cũng như giá cả ở những mắc xích của dây chuyền sản xuất (giá nhập khẩu, giá nhà sản xuất và giá tiêu dùng) và giá cả của các ngành trong phạm vi một quốc gia. Trên phạm vi ngành, ERPT phụ thuộc vào chiến lược định giá của công ty, đến lượt nó chính sách định giá của công ty lại phụ thuộc vào cơ cấu ngành. Nhiều nghiên cứu gần đây tập trung vào nghiên cứu chiến lược định giá và thay đổi mức lợi nhuận của công ty nhằm đối phó với sự thay đổi của tỷ giá. Cơ sở lý luận của đa số các nghiên cứu này là công trình nghiên cứu của Donbursch (1987), trong đó những khác biệt về ERPT được lý giải là do mức độ tập trung hóa của thị trường, mức độ thâm nhập của hàng hóa nhập khẩu và tính thay thế của hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa sản xuất trong nước.

Donbursch cho rằng các ngành có tính cạnh tranh càng cao (lợi nhuận biên nhỏ) và tỷ trọng hàng nhập khẩu trong tổng doanh thu bán hàng càng lớn thì ERPT càng lớn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Trên phạm vi quốc gia, ERPT phụ thuộc vào ba nhân tố chính: độ co dãn tương đối của cầu và cung, môi trường kinh tế vi mô và các điều kiện kinh tế vĩ mô (Philips, 1988). Độ co dãn tương đối của cung và cầu Trong điều kiện không phát sinh các cơn sốc khác, độ co dãn của cầu và cung theo giá là nhân tố quyết định lớn của ERPT. Đối với hàng hóa xuất khẩu, mức độ của ERPT sẽ càng lớn nếu độ co dãn của cầu càng lớn và độ co dãn của cung càng thấp.

Đối với hàng hóa nhập khẩu thì ngược lại, mức độ của ERPT sẽ càng lớn nếu độ co dãn của cầu càng nhỏ và độ co dãn của cung càng lớn (Spitaller, 1980). Do đó, ERPT phải là toàn phần (bằng 1) trong một nền kinh tế nhỏ, bởi vì cầu đối với xuất khẩu là co dãn tuyệt đối và cung nhập khẩu là co dãn tuyệt đối do quốc gia đó không có khả năng tác động đến thị trường thế giới. Môi trường kinh tế vi mô Nếu như xem xét các mô hình kinh tế vi mô tỷ trọng nhập khẩu càng lớn thì ERPT đến giá trong nước càng mạnh. Knetter (1993) kết luận rằng ngành nghề, chứ không phải quốc tịch của công ty mới ảnh hưởng nhiều hơn đến hành vi định giá của công ty.

Như vậy những khác biệt về ERPT giữa các quốc gia có thể là do những khác biệt về cơ cấu các ngành ở các quốc gia đó. Nếu như công ty ít quan tâm đến chiến lược định giá trên thị trường nhỏ, ERPT sẽ mạnh hơn trong các nền kinh tế nhỏ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các điều kiện kinh tế vĩ mô Mann (1986) trong công trình nghiên cứu của mình, đã khảo sát một số biến kinh tế vĩ mô có thể ảnh hưởng đến độ lớn của ERPT.

Ông cho rằng, tỷ giá thường xuyên biến động có thể làm giảm ERPT bởi vì các nhà nhập khẩu có thể thiên về điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận hơn là giá cả. Tuy nhiên, nếu công ty kỳ vọng rằng sự thay đổi của tỷ giá có tính chất lâu dài, chứ không phải mang tính chất tạm thời thì nhiều khả năng công ty sẽ thay đổi giá cả hàng hóa hơn là tỷ suất lợi nhuận nên dẫn đến ERPT sẽ cao. Vì vậy, ERPT sẽ cao hơn ở những nước nơi mà có những thay đổi tỷ giá ổn định hơn. Một biến kinh tế vĩ mô khác có ảnh hưởng đến độ lớn ERPT, đó là tính ổn định của tổng cầu (Mann, 1986).

Những thay đổi của tổng cầu cùng với dao động của tỷ giá ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận của nhà nhập khẩu trên thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, đồng thời làm giảm ERPT. Vì vậy, ERPT phải thấp hơn ở các quốc gia có tổng cầu biến động nhiều hơn. Đồng tiền định giá hàng hóa cũng ảnh hưởng đến ERPT. Một nước với đồng tiền quốc gia kém ổn định có tỷ lệ nhập khẩu khá lớn được định giá bằng ngoại tệ thì việc yết giá bằng ngoại tệ cũng sẽ có lợi hơn đối với các công ty chỉ kinh doanh trên thị trường nội địa.

Trong tình huống này, tỷ giá có những tác động không chỉ đối với hàng hóa nhập khẩu, mà còn đối với hàng hóa chỉ sản xuất và tiêu dùng trong nước (non-tradables), và ERPT sẽ toàn phần (Tsesliuk, 2002). Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ERPT giảm dần khi tình hình kinh tế vĩ mô ổn định hơn, cạnh tranh tăng lên và hành vi của các công ty LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 hướng đến việc tối đa hóa thị phần của mình. Theo kết luận của Dubravko & Marc (2002), ERPT đã giảm từ những năm 90 ở các nước đang phát triển, có thể là do các điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định hơn và kết quả của các cuộc cải cách được thực hiện. Yếu tố vĩ mô được cho ảnh hưởng đến độ lớn của mức truyền dẫn tỷ giá là mức phụ thuộc hàng nhập khẩu (được đo lường bằng tỷ lệ giá trị nhập khẩu/GDP) của một quốc gia; nếu một quốc gia có mức phụ thuộc hàng hóa nhập khẩu càng cao thì mức độ truyền dẫn tỷ giá càng lớn.

Điều này đã được khẳng định qua các nghiên cứu của McCarthy (2000), Katherine H. Gagnon và Jane Ihrig (2004) trong nghiên cứu của mình cho thấy rằng ở các nước thực thi chính sách lạm phát mục tiêu thì ERPT là thấp hơn hẳn so với các nước khác; nguyên nhân là do những nhà sản xuất và phân phối khi biết Chính phủ thực thi chính sách lạm phát mục tiêu thì sẽ e ngại hơn trong việc điều chỉnh tăng giá bán sản phẩm mà thay vào đó họ chấp nhận giảm lợi nhuận biên (trong một giới hạn nhất định) của mình dù đồng tiền nội địa có bị điều chỉnh mất giá. Một nhân tố khác giải thích những khác biệt về ERPT giữa các quốc gia có thể là những khác biệt trong mức lạm phát. Nhiều nghiên cứu chứng minh mức truyền dẫn tỷ giá là thấp đối với các quốc có môi trường lạm phát ban đầu thấp, ngược lại ở các quốc giá có môi trường lạm phát cao thì mức truyền dẫn tỷ giá sẽ lớn hơn, tiêu biểu là nghiên cứu của Taylor (2000) đối với các nước phát triển, Michele Ca’ Zorzi (2007) đối với các nước đang phát triển và Anderson (2005) đối với các nền kinh tế nhỏ và có độ mở cao.

Giải LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ