Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu – trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và kết cấu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực ngiệm liên quan. Trong chương này cũng sẽ trình bày một số mô hình lý thuyết và một số nghiên cứu có liên quan khác. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – trình bày qui trình nghiên cứu, cách thức xây dựng thang đo, phương pháp chọn mẫu, quá trình thu thập thông tin, các công cụ xử lý dữ liệu và các kỹ thuật phân tích thống kê được sử dụng nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận – trình bày và diễn giải kết quả của nghiên cứu định lượng chính thức, bao gồm các kết quả phân tích …. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị – trình bày những kết quả đáng chú ý thu được từ công trình nghiên cứu này, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị. LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 2.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái Theo Michael Mussa (1986), tỷ giá hối đoái giữa hai quốc gia có thể được định nghĩa là giá tương đối của giỏ hàng hoá tiêu của một quốc gia so với giỏ hàng hoá của quốc gia khác. Còn theo như Merle-Holden (1990), tỷ giá hối đoái thực là giá tương đối của hàng hóa có thể giao dịch và không thể giao dịch.
Trong đó, hàng hóa bao gồm cả hàng hóa xuất khẩu và hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa xuất khẩu bao gồm hàng hóa xuất khẩu thực tế ngoài hàng hóa xuất khẩu được bán trên thị trường nội địa và hàng hóa thay thế hàng hóa nhập khẩu bao gồm hàng hóa nhập khẩu cũng như hàng hóa thay thế hàng hóa nhập khẩu được bán trong nước. Còn ở Việt Nam, theo Luật Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (1997) định nghĩa tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữa giá trị của đồng Việt Nam với giá trị của đồng tiền nước ngoài, có sự điều tiết của Nhà Nước trên thị trường và do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định và công bố. Tỷ giá này được hình thành dựa trên cơ sở cung cầu ngoại tệ, dưới sự điều tiết của Nhà Nước, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định. Trong nền thương mại hiện nay, hoạt động đầu tư và các quan hệ tài chính quốc tế đòi hỏi các quốc gia phải thiết lập thanh toán với nhau.
Vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng của mình. Từ đó, thanh toán giữa các quốc gia dẫn đến việc trao đổi giữa các đồng tiền khác nhau, theo đó các khái niệm tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa hai tiền tệ của hai nước với nhau. Từ các khái niệm trên cho thấy, tỷ giá hối đoái dùng để biểu thị tương quan giá cả của hai đồng tiền ở hai nước khác nhau.2 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa Tỷ giá hối đoái danh nghĩa được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối, nó chính là giá của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng. Có hai loại tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá danh nghĩa song phương và đa phương.
16 – Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương là giá cả của một đồng tiền so với một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến chênh lệch lạm phát giữa hai nước. – Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương (NEER) là một chỉ số được tính bằng cách chọn ra một số loại ngoại tệ đặc trưng (rổ tiền tệ) và tính tỷ giá trung bình các tỷ giá danh nghĩa của các đồng tiền có tham gia vào rổ tiền tệ với tỷ trọng tỷ giá tương ứng. Để tính NEER, cần xác định tỷ trọng thương mại của quốc gia so các nước có đồng tiền trong rổ được chọn, từ đó áp dụng vào công thức tính NEER như sau 𝑛 𝑁𝐸𝐸𝑅 = ∑ 𝑒𝑗𝑖. 𝑤𝑗 𝐽=1 Trong đó, gọi t = 0 là kỳ gốc, (t = 0, 1, 2,.i) là các thời kỳ nghiên cứu.
E0n, là tỷ giá danh nghĩa của đồng nội tệ với đồng ngoại tệ thứ n trong rổ tiền tệ tại thời điểm t = 0 (kỳ gốc). Ein, tỷ giá danh nghĩa của đồng nội tệ với đồng ngoại tệ thứ n trong rổ tiền tệ tại thời điểm t = i. wn là tỷ trọng thương mại của đồng tiền các nước Nếu so sánh tỷ giá danh nghĩa so với kỳ gốc, ta có, tại thời kỳ t = 0 thì chỉ số 𝐸0 tỷ giá danh nghĩa của đồng nội tệ với ngoại tệ thứ n là 𝑒𝑛0 = 𝐸0 và tại thời kỳ t = i thì 𝑛 𝐸𝑖 chỉ số tỷ giá danh nghĩa của đồng nội tệ với ngoại tệ thứ n là 𝑒𝑛𝑖 = 𝐸𝑖 .3 Tỷ giá hối đoái thực Theo như Michael Mussa (1986), tỷ giá hối đoái thực giữa hai quốc gia có thể được định nghĩa là giá tương đối của giỏ hàng hoá tiêu dùng của một quốc gia so với giỏ hàng hoá tiêu dùng của quốc gia kia. Còn theo như Ahmed N.
Kipici (1997), tỷ giá hối đoái thực có thể được định nghĩa là tỷ giá hối đoái danh nghĩa có tính đến chênh lệch lạm phát giữa các quốc gia. Từ hai định nghĩa trên, tỷ giá hối đoái thực (RER) là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi tương quan giá cả trong nước và ngoài nước. cho biết tỉ lệ giá cả hàng hóa ở hai quốc gia khi tính theo cùng một đơn vị tiền tệ, hay nói cách khác là tỉ lệ trao đổi hàng hóa hai quốc gia. 17 • Tỷ giá thực song phương Tỷ giá thực song phương là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước, nó là chỉ số thể hiện sức mua của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ.
Vì thế có thể xem tỷ giá thực là thước đo sức cạnh tranh trong mậu dịch quốc tế của một quốc gia so với một quốc gia khác. – Tỷ giá thực song phương ở trạng thái tĩnh Tỷ giá thực song phương được xét tại một thời điểm. Ta có công thức tính như sau: E E. P f Er = = P h ⁄P f Ph Trong đó, E đại diện cho tỷ giá danh nghĩa tính bằng số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ.
Ph là mức giá trong nước và Pf là mức giá nước ngoài. Trong công thức trên, tử số là giá cả hàng hóa được quy về đồng nội tệ và đem chia cho mẫu số là giá hàng hóa trong nước (cũng được tính bằng nội tệ). Vì thế tỷ giá thực là một chỉ số so sánh mức giá nước ngoài so với mức giá trong nước. Nếu Er = 1 thì đồng tiền trong nước và đồng ngoại tệ có ngang giá sức mua.
Nếu Er >1, đồng nội tệ được định giá thấp. Khi đồng nội tệ định giá thấp, về lý thuyết sẽ khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Ngược lại, khi Er <1, đồng nội tệ được định giá cao, giá hàng hóa trong nước sẽ cao hơn giá hàng hóa ở nước ngoài. Do đó, ngược lại với trường hợp trên, đồng nội tệ định giá cao sẽ hạn chế xuất khẩu và tăng nhập khẩu.
– Tỷ giá thực song phương ở trạng thái động Hiện nay không có quốc gia nào công bố giá của một rổ hàng hóa, cho nên tỷ giá thực ở trạng thái tĩnh chỉ mang ý nghĩa lý thuyết. Vì vậy, người ta sử dụng tỷ giá ở trạng thái động để tính toán sự vận động của tỷ giá thực từ thời kỳ này sang thời kỳ khác thông qua việc điều chỉnh tỷ giá danh nghĩa với chênh lệch lạm phát giữa hai quốc gia có đồng tiền đem so sánh. Tại thời điểm t: CPI0ft et0r = 𝑒0𝑡 × × 100% CPI0ht 18 Trong đó, et0 đại diện cho chỉ số tỷ giá danh nghĩa thời điểm t so với thời điểm 𝐸𝑡 0. Được xác định bằng công thức sau 𝑒𝑛𝑡 = 𝐸.
et0r là chỉ số tỷ giá thực thời điểm t so 0 𝑡 𝐸𝑟 với thời điểm 0. Hai biến CPI0ft và CPI0ht lần lượt là chỉ số 0 giá ở nước ngoài thời điểm t và chỉ số giá trong nước thời điểm t. • Tỷ giá thực đa phương Tỷ giá thực song phương thể hiện sự lên giá hay xuống giá của một đồng nội tệ so với một đồng ngoại tệ. Tuy nhiên, ngày nay mối quan hệ thương mại của quốc gia là đa phương, một nước có giao dịch và quan hệ với nhiều nước khác trên thế giới.
Vì vậy, để đánh giá tác động của tỷ giá đến tình trạng cán cân thương mại của một quốc gia, người ta thường dùng tỷ giá thực đa phương để có cái nhìn toàn diện hơn về vị thế cạnh tranh của hàng hoá trong nước với các đối tác thương mại tại một thời điểm nhất định. Kipici và Mehtap Kesriyeli (1997), tỷ giá thực đa phương là tỷ giá hối đoái thực tương ứng với các đối tác thương mại của một quốc gia được sử dụng theo một số tiêu chí trọng số. Tỷ trọng của các nước đối tác trong tổng khối lượng ngoại thương của một quốc gia hoặc tỷ trọng của các đơn vị tiền tệ được sử dụng trong các giao dịch ngoại thương có thể được lấy làm thước đo về tiêu chí trọng số này. Từ định nghĩa trên, tỷ giá thực đa phương (hay tỷ giá hiệu lực – REER) có thể hiểu là một chỉ số phản ánh mức độ cạnh tranh về giá cả của quốc gia và là cơ sở để đánh giá đồng nội tệ bị định giá cao hay thấp.
Chỉ số này rất hữu ích cho việc đạt được mục tiêu thích hợp trong cơ chế tỷ giá hỗn hợp giữa linh hoạt và cố định. Vì vậy, nó được nhìn nhận như là dữ liệu cơ bản cho quá trình thực thi chính sách. Tỷ giá thực đa phương được tính toán để định ra giá trị thực của đồng nội tệ so với các ngoại tệ (rổ ngoại tệ). Bằng cách điều chỉnh tỷ giá theo chênh lệch lạm phát quốc nội so với lạm phát các đối tác tác thương mại, ta sẽ có tỷ giá thực song phương với từng đồng ngoại tệ.
Sau đó xác định quyền số (mức độ ảnh hưởng đối 19 với tỷ giá thực thông qua tỷ trọng thương mại của từng đối tác với quốc gia có đồng tiền tính REER).