Chương 1 giới thiệu về tính cấp thiết của đề tài, bối cảnh nghiên cứu trên thế giời và trong nước, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp mới và ý nghĩa của nghiên cứu và cuối cùng là bố cục của luận văn. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 2 tổng quan các lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, cam kết gắn bó với tổ chức, cảm nhận tự hào về tổ chức, đồng thời nêu ra các cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu để đưa ra mô hình nghiên cứu do tác giả đề xuất và đề xuất các giả thuyết nghiên cứu cho bài luận văn. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3 viết về phần thiết kế nghiên cứu, xây dựng quy trình nghiên cứu cho bài luận văn, xây dựng thang đo, thiết kế bản hỏi, phương pháp cách thức thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu. Luan van 13 - Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 4 tập trung phân tích đánh giá kết quả kiểm định mô hình thang đo, mô hình cấu trúc và kiểm định các giả thuyết được đặt ra ở Chương 2. - Chương 5: Kết luận và một số khuyến nghị.
Chương 5 đưa ra các kết luận nhận định rút ra từ kết quả nghiên cứu được phân tích đánh giá ở Chương 4, từ đó đưa ra các hàm ý quản trị cho các nhà quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như tác giả chỉ ra một sộ hạn chế của nghiên cứu và gợi ý hướng nghiên cứu cho các nghiên cứu trong tương lai. SƠ KẾT CHƯƠNG 1 Trong bối cảnh hiện nay, có hơn 98% số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó đa phần gặp nhiều khó khăn trong việc giữ chân các người lao động có năng lực gắn bó lâu dài. Đồng thời, ở Việt Nam nói chung cũng như Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chưa được hiểu một cách đầy đủ và chính xác, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp cũng chưa thật sự đảm bảo. Thông thường, khi nhắc đến thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đa phần mọi người sẽ có hướng suy nghĩ đến việc các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động từ thiện nhiều hơn.
Do đó, việc nghiên cứu và phân tích tác động của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến cam kết gắn bó với tổ chức của người lao động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là một vấn đề cấp thiết, hoàn toàn có ý nghĩa trong bối cảnh xã hội hiện nay. Ngoài ra, mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu cùng với phương pháp nghiên cứu cũng được xác định rõ ràng để đưa ra định hướng cho nghiên cứu được viết trong cấu trúc bao gồm năm chương. Tiếp theo của bài nghiên cứu sẽ là cơ sở lý thuyết liên quan để làm nền tảng phục vụ xuyên suốt bài nghiên cứu và cũng là cơ sở để tác giả thiết lập mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết nghiên cứu của đề tài. Luan van 14 CHƯƠNG 2.
Khung lý thuyết Thuyết bản sắc xã hội - Social identity theory (SIT) Vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX, hai nhà tâm lý học xã hội Henri Tajfel và John Turner đưa ra thuyết bản sắc xã hội, mô tả các quá trình nhận thức liên quan đến bản sắc xã hội và cách bản sắc xã hội tác động đến hành vi giữa các nhóm. Lý thuyết bản sắc xã hội được xây dựng dựa trên quá trình gồm ba giai đoạn: phân loại xã hội, xác định xã hội và so sánh xã hội. (1) Trước tiên, mọi người phân loại bản thân và những người khác vào các nhóm xã hội dựa trên các tiêu chí bên ngoài hoặc bên trong. (2) Sau đó, họ nhận dạng với một nhóm và thay đổi hành vi của họ ở một mức độ nào đó vì tư cách thành viên của họ.
(3) Cuối cùng, họ so sánh nhóm của mình với những nhóm khác để có được sự tôn trọng đối với tư cách thành viên đã xác định của họ. Quá trình này dẫn đến việc tối đa hóa những điểm tương đồng trong các nhóm và sự khác biệt giữa các nhóm khác nhau. Mô hình Lý thuyết bản sắc xã hội SIT Nguồn: Henri Tajfel và John Turner, 1979 2. Lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) 2.
Các giai đoạn phát triển về khái niệm của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Theo Rahman (2011) có thể phân loại đánh giá các định nghĩa về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) theo các giai đoạn phát triển lý thuyết về CSR với 06 giai đoạn sau: Giai đoạn những năm 1950s; Giai đoạn những năm 1960s; Giai đoạn những năm 1970s; Giai đoạn những năm 1980s, Giai đoạn những năm 1990s và Giai đoạn đầu thế kỷ 21. Giai đoạn những năm 1950 Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bắt đầu xuất hiện từ những năm 1950s. Đến năm 1953, Bowen đã chính thức lần đầu tiên định nghĩa khái niệm trách nhiệm xã hội trong quyển sách của mình với tựa đề “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen). Ông nhận định “Trách nhiệm xã hội của những nhà kinh doanh phải thực hiện khi theo đuổi chính sách và đưa ra quyết định cho hoạt động kinh doanh của mình”.
Theo sau Bowen không lâu, Heald (1957) đã đưa ra định nghĩa về CSR như sau: CSR là sự thừa nhận về mặt quản lý một nghĩa vụ đối với xã hội mà nó phục vụ không chỉ cho hiệu quả kinh tế tối đa mà còn cho các chính sách xã hội nhân đạo và mang tính xây dựng. Chính sự dẫn dắt từ định nghĩa của Bowen và Heald đã khời đầu cho một kỷ nguyên Hiện đại của CSR. Các giám đốc công ty và giám đốc hội đồng quản trị bắt đầu cảm thấy rằng họ tồn tại như xã hội tồn tại và họ có một số nghĩa vụ đối với xã hội. Các chuyên gia nghiên cứu về CSR trong thời kỳ này đã thảo luận về nghĩa vụ của các doanh nghiệp đối với việc đạt được các mục tiêu, giá trị và chính sách mong muốn cho xã hội (Bowen 1953; Heald 1957).
Giai đoạn những năm 1960 Keith Davis (1960) là một trong những học giả tiêu biểu trong thời kỳ này khi định nghĩa trách nhiệm xã hội bằng cách lập luận rằng CSR có liên quan đến “các quyết định và hành động của doanh nhân được thực hiện vì những lý do ít nhất một phần nằm ngoài lợi ích kinh tế hoặc kỹ thuật trực tiếp của công ty”. Một học giả khác trong thời kỳ này, William C. Frederick đã cho rằng “Trách nhiệm xã hội có nghĩa là các nhà kinh doanh nên giám sát hoạt động của một hệ thống kinh tế nhằm đáp ứng kỳ vọng của công chúng. Và điều này có nghĩa là tư liệu sản xuất của nền kinh tế phải được sử dụng theo cách mà sản xuất và phân phối sẽ nâng cao tổng phúc lợi kinh tế xã hội” (Frederick, 1960).
Cũng bắt đầu từ những năm 1960s, các vấn đề đạo đức trong kinh doanh đã tăng lên ở mức kỷ lục. Trong thời gian này, nhiều doanh nghiệp đang bán các sản phẩm không an toàn có hại cho môi trường, xã hội đã không thành công trong việc giúp đỡ những công dân thiếu thốn về kinh tế, hối lộ là phổ biến và đạo đức bị ảnh hưởng bởi tiền bạc và quyền lực (Lantos, 2001). Do đó, lý thuyết về CSR cũng được mở rộng phạm vi tài liệu từ những năm 1960. Giai đoạn những năm 1970 Các định nghĩa về CSR đã phát triển tốt trong những năm 1970.
Năm 1979, Carroll, một học giả dẫn đầu nghiên cứu về CSR đã đưa ra định nghĩa sau: “Trách nhiệm xã hội của kinh doanh bao gồm các kỳ vọng kinh tế, luật pháp, đạo đức và sự tùy ý mà xã hội có đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định” (Carroll, 1979). Các doanh nhân trong thời kỳ đó đã tham gia đáng kể vào hoạt động từ thiện của doanh nghiệp và các mối quan hệ cộng đồng. Một số định nghĩa xuất hiện lần này nhấn mạnh sự bao gồm của các bên liên quan, cần thiết để phù hợp với kỳ vọng của công chúng và việc sử dụng CSR vì lợi ích lâu dài của xã hội. Bốn khía cạnh của hoạt động xã hội đã trở nên nổi tiếng trong thời kỳ này.
Đó là trách nhiệm xã hội, kế toán xã hội, chỉ số xã hội và kiểm toán xã hội (Backman 1975). Giai đoạn những năm 1980 Giai đoạn những năm 1980 đã đóng góp thêm về các định nghĩa CSR và các lý thuyết mở rộng liên quan. Cụ thể, Carroll (1983) đưa ra một định nghĩa mới về các khía cạnh của CSR bao gồm bốn phần: kinh tế, pháp lý, đạo đức và tình nguyện nguyện hoặc từ thiện. Trong khi đó, Freeman (1984) đã đưa ra Lý thuyết các bên liên quan rất tiêu biểu, trong đó thể hiện sự tham gia và vai trò của các bên liên quan trong việc thúc đẩy CSR bao gồm khách hàng, đối thủ cạnh tranh, hiệp hội thương mại, truyền thông, môi trường, nhà cung cấp, chính phủ, người ủng hộ người tiêu dùng, cộng đồng địa phương và cộng đồng doanh nghiệp.
Các định nghĩa trong giai đoạn này cũng góp phần xác định mối quan hệ giữa CSR và khả năng sinh lời (Cochran và Wood 1984). Thực tế là các hoạt động CSR làm tăng uy tín của các doanh nghiệp, làm tăng niềm tin của người tiêu dùng vào các sản phẩm và dịch vụ của các doanh nghiệp đó. Kết quả là từ đó lợi nhuận cũng tăng lên. Giai đoạn những năm 1990 Trong những năm 1990, một vài định nghĩa chính về CSR đã xuất hiện, mang lại một hiện tượng mới trong định nghĩa về CSR.
Giải thích của Hopkin (1998) về các bên liên quan đến CSR, những người đóng cả trong và ngoài tổ chức, nghe có vẻ phù hợp. Woodward-Clyde (1999) định nghĩa CSR là một khế ước xã hội giúp chúng ta hiểu được định nghĩa CSR một cách rất đơn giản. Khái niệm ba điểm cuối cùng được Elkington đưa ra trong thập kỷ này, đã được chấp nhận rộng rãi trong thế giới Luan van 17 doanh nghiệp. Cuối cùng, những đóng góp của Carroll trong sự phát triển của lịch sử CSR thông qua bài báo "Sự phát triển của một cấu trúc định nghĩa‟, đã đưa ra một tầm cao mới trong các nền văn học liên quan trong thập kỷ này và có thể thực sự được đánh giá cao.