Luận văn thạc sĩ kiểm tra ảnh hưởng của tín hiệu gian lận và hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến lãi cơ bản trên cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Luận văn thạc sĩ phân tích tác động của tín hiệu gian lận và hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến lãi cơ bản trên cổ phiếu tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

121
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tác động của tín hiệu gian lận

Tín hiệu gian lận trong báo cáo tài chính là một vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến sự minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tín hiệu gian lận có thể dẫn đến sự giảm sút niềm tin của nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán. Tại Việt Nam, các công ty như Bông Bạch Tuyết và Dược Viễn Đông đã bị phát hiện có hành vi gian lận, gây thiệt hại lớn cho nhà đầu tư. Theo Zack (2013), các tín hiệu gian lận thường được phát hiện thông qua các tỷ số tài chính như tỷ số thanh khoản, tỷ số hoạt động, tỷ số thanh toán và tỷ số lợi nhuận. Việc phân tích các tỷ số này giúp nhà đầu tư nhận diện được những rủi ro tiềm ẩn trong báo cáo tài chính. Do đó, việc hiểu rõ về tín hiệu gian lận là rất cần thiết để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và duy trì sự ổn định của thị trường chứng khoán.

1.1. Các loại tín hiệu gian lận

Các loại tín hiệu gian lận có thể được phân loại thành nhiều nhóm khác nhau. Tín hiệu gian lận có thể xuất hiện dưới dạng các tỷ số tài chính bất thường, hoặc sự thay đổi đột ngột trong các chỉ tiêu tài chính. Ví dụ, tỷ số thanh toán hiện hành thấp có thể cho thấy một công ty gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ ngắn hạn. Ngoài ra, tỷ số lợi nhuận cao bất thường cũng có thể là dấu hiệu của việc điều chỉnh lợi nhuận không hợp lý. Việc nhận diện các tín hiệu gian lận này không chỉ giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư chính xác mà còn giúp các cơ quan quản lý phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi gian lận trong báo cáo tài chính.

II. Hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận là một trong những phương pháp mà các công ty sử dụng để tạo ra hình ảnh tài chính tích cực hơn trong mắt nhà đầu tư. Theo nghiên cứu của Jones (1991), các công ty có thể sử dụng các kỹ thuật kế toán để điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt được các mục tiêu tài chính nhất định. Hành vi này có thể dẫn đến việc báo cáo lợi nhuận không chính xác, gây ra những hiểu lầm cho nhà đầu tư. Tại Việt Nam, việc điều chỉnh lợi nhuận đã trở thành một vấn đề đáng lo ngại, khi nhiều công ty niêm yết bị phát hiện có hành vi này. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến lãi cơ bản cổ phiếu mà còn làm giảm niềm tin của nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán.

2.1. Các phương pháp điều chỉnh lợi nhuận

Có nhiều phương pháp khác nhau để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận. Một số công ty có thể sử dụng các khoản chi phí không thực tế để giảm lợi nhuận, trong khi những công ty khác có thể tăng doanh thu bằng cách ghi nhận doanh thu trước thời điểm thực tế. Theo nghiên cứu của Kothari (2005), việc sử dụng các phương pháp này có thể dẫn đến sự biến động lớn trong lãi cơ bản cổ phiếu. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến giá cổ phiếu mà còn có thể dẫn đến các vấn đề pháp lý cho công ty. Do đó, việc giám sát và kiểm tra các hành vi điều chỉnh lợi nhuận là rất quan trọng để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và duy trì sự ổn định của thị trường.

III. Tác động đến lãi cơ bản cổ phiếu

Sự kết hợp giữa tín hiệu gian lậnđiều chỉnh lợi nhuận có thể có tác động tiêu cực đến lãi cơ bản cổ phiếu. Khi nhà đầu tư nhận thấy các dấu hiệu gian lận trong báo cáo tài chính, họ có thể mất niềm tin vào công ty và quyết định bán cổ phiếu. Điều này dẫn đến sự giảm giá cổ phiếu và ảnh hưởng đến lãi cơ bản cổ phiếu. Nghiên cứu cho thấy rằng các công ty có hành vi gian lận thường có lãi cơ bản cổ phiếu thấp hơn so với các công ty minh bạch. Điều này cho thấy rằng việc duy trì tính minh bạch trong báo cáo tài chính là rất quan trọng để bảo vệ giá trị cổ phiếu và niềm tin của nhà đầu tư.

3.1. Phân tích tác động

Phân tích tác động của tín hiệu gian lậnđiều chỉnh lợi nhuận đến lãi cơ bản cổ phiếu cho thấy rằng các công ty có hành vi gian lận thường phải đối mặt với sự giảm sút trong giá trị cổ phiếu. Theo nghiên cứu của Spathis (2002), các công ty này không chỉ mất niềm tin từ nhà đầu tư mà còn có thể gặp khó khăn trong việc huy động vốn trong tương lai. Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn, khi giá cổ phiếu giảm dẫn đến việc công ty khó khăn hơn trong việc duy trì hoạt động kinh doanh. Do đó, việc phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi gian lận và điều chỉnh lợi nhuận là rất cần thiết để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và duy trì sự ổn định của thị trường chứng khoán.

25/01/2025
Luận văn thạc sĩ kiểm tra ảnh hưởng của tín hiệu gian lận và hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến lãi cơ bản trên cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 123doc 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS) 2.1 Khái niệm Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 30), EPS hay lợi nhuận (thu nhập) trên mỗi cổ phiếu là số lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang lưu hành trên thị trường. Theo thông tư 200/2014/TT-BTC, lãi cơ bản trên cổ phiếu, chưa tính đến các công cụ được phát hành trong tương lai có khả năng pha loãng giá trị cổ phiếu. Chỉ tiêu này được trình bày trên Báo cáo tài chính của công ty cổ phần là doanh nghiệp độc lập. Đối với công ty mẹ là công ty cổ phần, chỉ tiêu này chỉ được trình bày trên Báo cáo tài chính hợp nhất, không trình bày trên Báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ.2 Phân loại lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS) 2.1 Lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS hay Basic EPS) Lãi cơ bản trên cổ phiếu là chỉ số đánh giá trực tiếp, phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận ròng (lợi nhuận có thể dùng chi trả cho cổ đông) trên một cổ phần mà cổ đông đóng góp.

Theo hướng dẫn của chuẩn mực kế toán Việt Nam số 30 và hướng dẫn chi tiết theo Thông tư 21/2006/TTBTC, công thức tính EPS cơ bản như sau: 123doc 5 Theo thông tư 200/2014/TT-BTC, trường hợp Quỹ khen thưởng, phúc lợi được trích từ lợi nhuận sau thuế, lãi cơ bản trên cổ phiếu được xác định theo công thức sau: Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho Số trích quỹ Lãi cơ bản cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông - khen thưởng, phúc lợi trên cổ = phiếu Số lượng bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ Tính lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ phiếu phổ thông được thực hiện bằng cách lấy chỉ tiêu lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ trừ (-) các khoản điều chỉnh giảm và cộng (+) thêm các khoản điều chỉnh tăng lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Trường hợp công ty trình bày lãi cơ bản trên cổ phiếu trên báo cáo tài chính hợp nhất thì lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ là lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập doanh nghiệp được tính trên cơ sở thông tin hợp nhất. Trường hợp công ty trình bày trên báo cáo tài chính riêng thì lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ là lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế của riêng công ty. Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu CP phổ thông = Lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập doanh nghiệp +/– Các khoản điều chỉnh Số lượng cổ phiếu phổ thông được sử dụng để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu là số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ.

Việc sử dụng số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ là do giá trị vốn cổ đông thay đổi trong kỳ khi số lượng cổ phiếu phổ thông lưu hành tăng hoặc giảm. Số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông lưu hành trong kỳ là số lượng cổ phiếu phổ thông lưu hành đầu kỳ được điều chỉnh theo số cổ phiếu phổ thông được mua lại hoặc được phát hành thêm nhân với hệ số thời gian. Hệ số thời gian là tỷ số 123doc 6 giữa số lượng ngày mà cổ phiếu được lưu hành trong kỳ chia cho tổng số ngày trong kỳ.2Lãi cơ bản trên cổ phiếu pha loãng (Diluted EPS) EPS pha loãng (diluted EPS) để tính toán thu nhập mỗi cổ phần có xét đến yếu tố khối lượng cổ phiếu lưu hành của doanh nghiệp sẽ tăng thêm trong tương lai do việc chuyển đổi các loại chứng khoán nợ chuyển đổi (trái phiếu chuyển đổi), thực hiện quyền chọn, chứng quyền. Theo thông tư 200/2014/TT-BTC, lãi cơ bản trên cổ phiếu được xác định như sau: Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho Số trích quỹ Lãi suy cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông - khen thưởng, phúc lợi giảm trên = cổ phiếu Số bình quân gia quyền của cổ phiếu + Số lượng cổ phiếu phổ thông phổ thông đang lưu hành trong kỳ dự kiến được phát hành thêm EPS pha loãng được tính tương tự EPS cơ bản nhưng trên cở sở điều chỉnh lãi thuần và số CP lưu hành bình quân trong kỳ.

– Lãi hay lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu CP phổ thông: Lãi dùng để tính EPS cơ bản sẽ được điều chỉnh bởi các ảnh hưởng sau thuế của các khỏan: • Các khoản lãi suất tiền vay trong kỳ của các trái phiếu chuyển đổi tiềm năng • Các khoản cổ tức của các CP ưu đãi chuyển đổi tương lai mà chúng đã được trừ ra khỏi khi tính lãi cho EPS cơ bản. • Các khoản thay đổi khác trong thu nhập và chi phí (phí, chiết khấu, tiền thưởng) là kết quả của việc chuyển đổi các trái phiếu chuyển đổi hay quyền chọn thành CP phổ thông. 123doc 7 – Số CP phổ thông bình quân lưu hành trong kỳ: Bằng số bình quân gia quyền của số CP phổ thông dùng để tính EPS cơ bản cộng với bình quân gia quyền của các CP phổ thông mà chúng sẽ được phát hành từ việc chuyển đổi tất cả các trái phiếu chuyển đổi, quyền chọn, chứng quyền, quyền mua CP thành các CP phổ thông. Chúng ta giả định các CP tiềm năng này sẽ được chuyển đổi thành các CP phổ thông vào ngày đầu tiên của kỳ báo cáo.2 Tín hiệu gian lận (Red flags) và hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Earnings management) 2.1 Các tín hiệu gian lận Theo Gerard M.

Zack (2013), tín hiệu gian lận là những rủi ro quan trọng, tiềm tàng cần xem xét khi đánh giá các báo cáo tài chính của một doanh nghiệp. Việc phân tích báo cáo tài chính sẽ giúp tìm ra những nơi có rủi ro cao và tạo thành danh sách những tín hiệu gian lận để phục vụ cho việc kiểm tra, rà soát kĩ cãng. Một trong các tín hiệu gian lận sử dụng phổ biến là các tỷ số tài chính hoặc các xu hướng hoặc các đặc điểm cho người đọc BCTC biết khả năng các BCTC có hàm chứa các sai sót và gian lận. Tỷ số tài chính giúp nhà phân tích báo cáo tài chính tìm ra được xu hướng phát triển của doanh nghiệp cũng như giúp nhà đầu tư, các chủ nợ kiểm tra được tình hình sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.

Biết tính toán và sử dụng các chỉ số tài chính không chỉ có ý nghĩa với nhà phân tích tài chính, mà còn rất quan trọng với nhà đầu tư cũng như với chính bản thân doanh nghiệp và các chủ nợ. Các tỷ số tài chính cho phép chúng ta so sánh các mặt khác nhau của các báo cáo tài chính trong một doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác trong toàn ngành để xem xét khả năng chi trả cổ tức cũng như khả năng chi trả nợ vay. Zack (2013) có 4 loại tỷ số tài chính thường được dùng để phát hiện gian lận báo cáo tài chính được phân loại như sau: tỷ số thanh khoản, tỷ số hoạt động, tỷ số thanh toán, tỷ số lợi nhuận.1Tỷ số thanh khoản (Liquidity ratios) Các tỷ số trong loại này được tính toán và sử dụng để quyết định xem liệu một doanh nghiệp nào đó có khả năng thanh toán các nghĩa vụ phải trả ngắn hạn hay không? a. Tỷ số thanh toán hiện hành (Current Ratio) Đây là chỉ số đo lường khả năng doanh nghiệp đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn.

Nói chung thì chỉ số này ở mức 2-3 được xem là tốt. Chỉ số này càng thấp ám chỉ doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn đối với việc thực hiện các nghĩa vụ của mình nhưng một chỉ số thanh toán hiện hành quá cao cũng không luôn là dấu hiệu tốt, bởi vì nó cho thấy tài sản của doanh nghiệp bị cột chặt vào “tài sản lưu động” quá nhiều và như vậy thì hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là không cao. Công thức tính: Chỉ số thanh toán hiện hành = Tài sản lưu động/ Nợ ngắn hạn b. Chỉ số thanh toán nhanh (Quick Ratio/Acid test) Tỷ số thanh toán nhanh đo lường mức thanh khoản cao hơn.

Chỉ những tài sản có tính thanh khoản cao mới được đưa vào để tính toán. Hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác được bỏ ra vì khi cần tiền để trả nợ, tính thanh khoản của chúng rất thấp. Công thức tính: Chỉ số thanh toán nhanh = (Tiền và tương đương tiền + Khoản phải thu + Khoản đầu tư tài chính ngắn hạn) / Nợ ngắn hạn Đánh giá tính thanh khoản có thể hữu ích khi đánh giá nguy cơ gian lận. Các khoản đầu tư ngắn hạn, có thể bị biến động trong giá trị hợp lý và được sử dụng đển gian lận.2Tỷ số hoạt động (Activity ratios) 123doc 9 Các tỷ số hoạt động cho thấy doanh nghiệp hoạt động tốt như thế nào và đôi khi được gọi là tỷ số về hiệu quả hoạt động, cho thấy doanh nghiệp đã sử dụng tài sản hiệu quả đến mức nào.

Vòng quay các khoản phải thu (Accounts Receivable Turnover) Đây là một chỉ số cho thấy tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà doanh nghiệp áp dụng đối với các bạn hàng. Chỉ số vòng quay càng cao sẽ cho thấy doanh nghiệp được khách hàng trả nợ càng nhanh. Nhưng nếu so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành mà chỉ số này vẫn quá cao thì có thể doanh nghiệp sẽ có thể bị mất khách hàng vì các khách hàng sẽ chuyển sang tiêu thụ sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh cung cấp thời gian tín dụng dài hơn. Và như vậy thì doanh nghiệp chúng ta sẽ bị sụp giảm doanh số.

Khi so sánh chỉ số này qua từng năm, nhận thấy sự sụt giảm thì rất có thể là doanh nghiệp đang gặp khó khăn với việc thu nợ từ khách hàng và cũng có thể là dấu hiệu cho thấy doanh số đã vượt quá mức. Vòng quay các khoản phải thu = Doanh số thuần hàng năm/ Các khoản phải thu trung bình Trong đó: Các khoản phải thu trung bình = (Các khoản phải thu còn lại trong báo cáo của năm trước và các khoản phải thu năm nay)/2 b. Số ngày bình quân vòng quay khoản phải thu Cũng tương tự như vòng quay các khoản phải thu, có điều chỉ số này cho chúng ta biết về số ngày trung bình mà doanh nghiệp thu được tiền của khách hàng Số ngày trung bình = 365/ Vòng quay các khoản phải thu c.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết với tiêu đề "Tác động của tín hiệu gian lận và điều chỉnh lợi nhuận đến lãi cơ bản cổ phiếu tại Việt Nam" phân tích mối liên hệ giữa các tín hiệu gian lận và việc điều chỉnh lợi nhuận trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng những tín hiệu này không chỉ ảnh hưởng đến lãi cơ bản cổ phiếu mà còn tác động đến niềm tin của nhà đầu tư và sự ổn định của thị trường. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các công ty có thể cải thiện tính minh bạch và trách nhiệm trong báo cáo tài chính, từ đó nâng cao giá trị cổ phiếu và thu hút đầu tư.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến tài chính doanh nghiệp và thị trường chứng khoán, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh ảnh hưởng của tham nhũng đối với chính sách tài chính doanh nghiệp - một nghiên cứu tại thị trường chứng khoán Hồ Chí Minh", nơi phân tích tác động của tham nhũng đến chính sách tài chính. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh các yếu tố tác động đến minh bạch thông tin của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán TP Hồ Chí Minh" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của minh bạch trong báo cáo tài chính. Cuối cùng, bài viết "Luận án tiến sĩ kinh tế ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách cơ cấu vốn ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán và tài chính doanh nghiệp tại Việt Nam.