Chương I: Cơ sở lý thuyết và Tổng quan tài liệu nghiên cứu. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và mô hình kinh tế lượng. Chương 3: Uớc lượng, kiêm định mô hình và suy diễn thông kê. 1: COSO LY THUYET VA TONG QUAN TAI LIEU NGHIÊN CỨU 1.
Cơ sở lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 1. Lý thuyết tăng trưởng kinh té a. Khái niệm tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh té trong kinh tế học được định nghĩa một cách chặt chẽ là sự gia tăng hay mở rộng quy mô của mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế quốc gia. Cu thé hơn, tăng trưởng kinh tế tập trung vào quy mô, sự thay đổi về lượng và không bao gồm sự thay đổi về chất.
Đo lường tăng trưởng kinh tế Theo lý thuyết kinh tế học vĩ mô, Tăng trưởng kinh tế giữa các quốc gia có thể được đo lường theo hai cách phổ biến. Thứ nhất, đo lường tăng trưởng kinh tế qua giá trị GDP. GDP được xem là một chi số chính để đo tăng trưởng kinh tế. Nó đo lường tổng giá trị của tất cả các hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong một nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định.
Việc so sánh về sự thay đổi giá trị Tổng sản phẩm quốc nội cũng có thể phản ánh sự tăng trưởng khác nhau giữa các quốc gia. Thứ hai, đo lường tăng trưởng kinh tế qua giá trị GDP bình quân đầu người. Đây là lý thuyết tương tự với GDP, nhưng được tính bình quân cho số dân trong nền kinh tế. Điều này cho phép so sánh tăng trưởng kinh tế giữa các quốc gia với quy mô dân số khác nhau.
So sánh tăng trưởng kinh tế thông qua GDP bình quân đầu người cho phép đánh giá khách quan sự tăng trưởng giữa các quốc gia, mỗi quốc gia có số dân khác nhau và quy mô GDP cũng khác nhau. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng cách đo lường qua giá trị GDP bình quân đầu người nhằm đánh giá khách quan và bình đẳng giữa các quốc gia khác nhau. Khải niệm Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) a. Định nghĩa GDP là viết tắt của Gross Domestic Product, có nghĩa là Tổng sản phẩm quốc nội.
Hiện nay, tuy có nhiều quan điểm khác nhau về chỉ tiêu GDP. Theo khái niệm của Tổng cục Thống kê Việt Nam “Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị hàng hóa cuối cùng được tạo ra của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (quý/năm).TS Hoàng Xuân Bình (Giáo trình Kinh tế học vĩ mô cơ bản, 2021) chỉ rõ hơn “GDP là tổng giá trị thị trường của tất cả hàng hoá, dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong một thời kỳ nhất định, bởi bất kỳ người sản xuất có quốc tịch nao. Phương pháp đo lường GDP và GDP bình quân đầu người Theo giáo trình Kinh tế học vi mô cơ bản, PGS.TS Hoàng Xuân Bình chỉ ra ba cách thức đo lường GDP, bao gồm: Phương pháp chỉ tiêu: GDP bằng tổng chỉ tiêu của tất cả những người tiêu dùng cuối cùng (người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước, chính phủ, hay người nước ngoai): GDP=C+I+G+(X-M) trong đó: C la chi tiêu của các hộ gia đình, I là chi tiêu của các hãng kinh doanh, G là chi tiêu của chính phủ, X là giả trị xuất khẩu, M la giá trị nhập khẩu. Phương pháp sản xuất: GDP được tính bằng tổng giá trị tăng thêm, tức là phần chênh lệch giữa giá trị sản lượng đầu ra với giá trị của các yếu tố đầu vào, hay còn gọi là tong chi phi.
GDP = VA = TR- TC trong do: VA la gia tri gia tang, TR là tổng giá trị sản long (Total Revenues), TC là tổng giá trị các yéu t6 dau vao (Total cost) Phương pháp chỉ phí: GDP được xác định bằng tổng tất cả các loại thu nhập (của người lao động, người sở hữu vốn và nhà nước). GDP=wtitr+pi trong do: w la chi phí tiền công. tiền lương: ¡ là chi phi thuê vốn; r la chi phí thuê nhà đất, p1 là lợi nhuận. GDP trên đầu người được đo lường bằng GDP thực tế chia cho tổng dân số: GDP DPpc= _~.
Các lý thuyết về các nhân tổ tác động đến tăng trưởng kinh tế Lý thuyết tăng trưởng kinh tế cỗ điển Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Adam Smith cho rằng nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế của một quốc gia bao gồm: Tích lũy vốn trong nền kinh tế, tiến bộ công nghệ cùng với các nhân tố xã hội và thê chế. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của David Ricardo lai chỉ ra những nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế một quốc gia là tích lũy vốn để đầu tư. Lý thuyết tăng trưởng theo trường phái Keynes 5 Lý thuyết trọng cầu của Keynes chỉ ra rằng đẩu #z làm tăng cẩu đóng vai trò quyết định đến quy mô việc làm do đó ảnh hướng đến sản lượng. Mô hình tăng trưởng kinh tế của Keynes (Harrod-Domar) chỉ ra nguồn gốc của tăng trưởng là tích luỹ tư bản, tăng trưởng kinh tế là tiết kiệm và đầu tư.
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế tân cô điển Lý thuyết tăng trưởng kinh tế này được phát triển bởi giáo sư Solow và giáo sư Swan (1956) chỉ ra sự gia tăng tích luỹ tư bản, lực lượng lao động và tiến bộ công nghệ tương tác với nhau và ảnh hưởng tới sản lượng, từ đó ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế tân cổ điển mở rộng của William H.Branson giải thích thêm về tác động của một số yêu tố có thể xác định quyền sở hữu (như tài nguyên thiên nhiên) và các yếu tố không thê xác định quyền sở hữu (như ô nhiễm môi trường, nước,.) Lý thuyết tăng trưởng kinh tẾ nội sinh Nghiên cứu của Villanueva (1994) đã lý giải tác động của chính sách của Chính phủ tới tăng trưởng kinh tế. Bố sung vào lý thuyết này; Gregory Mankiw, David Romer và David Weil (1992) đã giải thích cơ chế tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, lạm phát cũng là một trong những yếu tố được đề xuất là có ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế, cụ thể, lạm phát ở mức thấp quan hệ cùng chiều với tăng trưởng kinh tế và ngược lại (Fischer, 1993).
Cơ sở lý thuyết về tác động của một số yếu tố tới tăng trưởng kinh tế 1. Độ mở thương mại a. Khai niém Theo Fischer (2003), dd mo thương mại là quá trình phụ thuộc liên tục lẫn nhau về mặt sinh thái giữa các quốc gia được phản ánh trong việc ngày càng có nhiều hàng hóa và dịch vụ thương mại xuyên biên giới, các dòng chảy tài chính ngày cảng tăng. Trong báo cáo của World Bank (2002) nhân mạnh những lợi thế của việc mở cửa thương mại đối với các nền kinh tế đang phát triển trong bối cảnh của làn sóng toàn cầu hóa, đồng thời cũng phân chia các quốc gia đang phát triển thành những quốc gia có mức độ toàn cầu hóa cao hơn và thấp hơn.
Chí tiêu độ mở thương mại được tính bằng cách lấy giá trị tổng kim ngạch xuất nhập khẩu (Export and Import) của một thời kỳ chia cho giá trị của tổng sản phẩm trong nước cũng trong thời kỳ đó. Tác động của độ mở thương mại lên tăng trưởng kinh tế Có ba cách tiếp cận chính để nghiên cứu mối quan hệ giữa độ mở thương mại và sự tăng trưởng kinh tế. Đó là lý thuyết tân cô điển, kinh tế học thê chế và lý thuyết tăng trưởng nội sinh. Theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh, chính sách thương mại có thê ảnh hưởng đến tốc độ và quy mô tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Lý thuyết này cho răng, khi thị trường tiềm năng được mở rộng, các lợi thế kinh tế theo quy mô được phát huy, việc sản xuất các hàng hóa cuối cùng và các hàng hóa trung gian được tập trung vào những khu vực hiệu quả nhất. Hiệu ứng lan tỏa được gây ra bởi sự chuyển giao công nghệ mới cũng có những tác động đáng kế lên sự tăng trưởng của kinh tế quốc gia. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh được phát triên bởi Romer (1986), Locus (1988), Helpman (1990) va Acemoglu va Ventura (2002). Trong cách tiếp cận theo hướng học thuyết thé ché, North (1990), Olson (1996), DeSoto (2000) nhấn mạnh tầm quan trọng của các quyền sở hữu và tính công bằng trong việc thực hiện hợp đồng như là các thành phần cơ bản của tăng trưởng kinh tế, đồng thời tác giả cũng cho rằng thể chế có tầm quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả kinh tế trong nên kinh tế thị trường.
Tác động tích cực trong dài hạn của thương mại và độ mở cửa lên tốc độ tăng trưởng chỉ tổn tại khi mà độ mở cửa đi liền với khung thé chế và chính sách phù hợp như khuyến khích đầu tư, nâng cao chất lượng thê chế và tăng quá trình tích lũy vốn con người. Những quốc gia với chất lượng thê chế thấp, hệ thống tài chính yêu kém và bất ôn về chính trị sẽ không được hưởng những lợi ich do sự mở cửa mang lại. Theo cách tiếp cận mô hình tăng trưởng tân cô điển thì các nhà kinh tế học nhấn mạnh tầm quan trọng của lợi thế cạnh tranh trong thương mại, các quốc gia tối đa hóa lợi ích của mình thông qua việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên và các yêu tố sản xuất của nền kinh tế. Trong trường hợp này, những lợi ích thương mại được xem là những yêu tô tĩnh, tự do thương mại và độ mở cửa không dẫn đến sự tăng lên của tốc độ tăng trưởng trong dài hạn, nó chỉ có ảnh hưởng lên mức thu nhập (Duncan và Quang 2001).
Đầu tư trực tiép nwéc ngoai (FDI) a. Khai niém Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMEF), đầu tư trực tiếp nước ngoài là viết tắt của từ Foreign Direct Investment FDI, 1a “khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nên kinh tế thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác”. Theo một định nghĩa khác của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ nước chủ đầu tư có một tài sản ở nước khác (nước nhận đầu tư) cùng với quyền kiêm soát tài sản đó. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là công ty mẹ và số tài sản được gọi là công ty con hay chỉ nhánh công ty.