phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động thƣơng mại ở tỉnh Ắt Tạ Pƣ, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động thƣơng mại ở tỉnh Ắt Tạ Pƣ, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 9 e Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚIHOẠT ĐỘNG THƢƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về hoạt động thƣơng mại 1. Khái niệm thương mại và hoạt động thương mại 1. Khái niệm thương mại Thƣơng mại nói chung đƣợc hiểu là hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ, tri thức, tiền tệ,… giữa hai hay nhiều đối tác và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác nhƣ trong hình thức thƣơng mại hàng đổi hàng.
Trong quá trình trao đổi hàng hóa đó, ngƣời bán là ngƣời cung cấp hàng hóa, dịch vụ… cho ngƣời mua, đổi lại ngƣời mua sẽ phải trả cho ngƣời bán một giá trị tƣơng đƣơng nào đó theo giá thị trƣờng. Thƣơng mại tồn tại và phát triển vì nhiều nguyên do. Nguyên nhân cơ bản của nó là sự chuyên môn hóa và phân chia lao động, trong đó các nhóm ngƣời nhất định nào đó chỉ tập trung vào việc sản xuất để cung ứng các hàng hóa hay dịch vụ thuộc về một lĩnh vực nào đó để đổi lại hàng hóa hay dịch vụ của các nhóm ngƣời khác. Thƣơng mại cũng tồn tại giữa các khu vực là do sự khác biệt giữa các khu vực này đem lại lợi thế so sánh hay lợi thế tuyệt đối trong quá trình sản xuất ra các hàng hóa hay dịch vụ có tính thƣơng mại hoặc do sự khác biệt trong các quy mô của khu vực (dân số chẳng hạn) cho phép thu đƣợc lợi thế trong sản xuất hàng loạt.
Vì thế, thƣơng mại theo giá cả thị trƣờng đem lại lợi ích cho cả ngƣời mua và ngƣời bán. Nhƣ vậy, khái niệm thƣơng mại có nội hàm tƣơng đối rộng và cần đƣợc hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp để bao quát các vấn đề phát sinh mang tính chất thƣơng mại trong kinh doanh. Theo nghĩa rộng, thƣơng mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng. Thƣơng mại đồng nghĩa với kinh doanh, đƣợc hiểu nhƣ là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh trên thị trƣờng.
10 e Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam có quy định: thƣơng mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tƣ, xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Theo qui định của Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO), thƣơng mại bao gồm bốn lĩnh vực cơ bản là: thƣơng mại hàng hóa, thƣơng mại dịch vụ, đầu tƣ và sở hữu trí tuệ. Theo nghĩa hẹp, thƣơng mại là quá trình mua, bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trƣờng, là lĩnh vực phân phối và lƣu thông hàng hóa. Nếu hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ có một bên là ngƣời nƣớc ngoài thì ngƣời ta gọi đó là thƣơng mại quốc tế.
Với cách tiếp cận này, thì các hành vi thƣơng mại bao gồm: mua, bán hàng hóa; đại diện cho thƣơng nhân; môi giới thƣơng mại; ủy thác mua bán hàng hóa; đại lý mua bán hàng hóa; gia công thƣơng mại; đấu giá hàng hóa; đấu thầu hàng hóa; dịch vụ giám định hàng hóa khuyến mại; quảng cáo thƣơng mại; trƣng bày giới thiệu hàng hóa; hội chợ triển lãm thƣơng mại; dịch vụ phát triển kinh doanh… Từ những phân tích trên, tác giả luận văn cho rằng: Thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm nhưng không giới hạn bởi các hoạt động sau: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại, các dịch vụ phục vụ công nghiệp, chuyển giao công nghệ, chuyển quyền sở hữu trí tuệ, các dịch vụ trên thị trường như dịch vụ vận tải, hàng hải, hàng không, du lịch, tài chính, ngân hàng và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi. Khái niệm hoạt động thương mại Hoạt động thƣơng mại là hoạt động của các thƣơng nhân, các tổ chức thƣơng mại của tƣ nhân hoặc của nhà nƣớc, thực hiện một hay nhiều hành vi thƣơng mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội nhất định. 11 e Hoạt động thƣơng mại là nghề nghiệp chính của các chủ thể kinh doanh nên họ đòi hỏi phải có khung pháp lý chặt chẽ, cụ thể, rõ ràng giúp họ giao kết thực hiện hợp đồng dễ dàng, thuận tiện. Vì là nghề nghiệp chính nên giữa các chủ thể trong hoạt động thƣơng mại sẽ có hành vi tiêu cực đối với nhau để trục lợi; do đó, họ cần pháp luật bảo vệ trƣớc đối thủ cạnh tranh và ngƣợc lại họ phải chịu sự quản lý, giám sát của nhà nƣớc, chịu các chế tài của pháp luật khi xâm hại lợi ích khách hàng, ảnh hƣởng trật tự xã hội.
Từ những phân tích trên có thể hiểu: hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại, đầu tư và các hành vi xúc tiến thương mại nhằm mục đích sinh lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội. Chức năng của hoạt động thương mại Một là, chức năng lƣu chuyển hàng hóa. Đây là chức năng xã hội của thƣơng mại. Chức năng này đòi hỏi các chủ thể thƣơng mại phải nghiên cứu và nắm vững nhu cầu thị trƣờng, huy động và sử dụng hợp lý các nguồn hàng, thiết lập các mối quan hệ kinh tế.
Hai là, chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lƣu thông. Thực hiện chức năng này, thƣơng mại tổ chức vận chuyển hàng hóa, tiếp nhận, bảo quản hàng hóa. Chức năng lƣu thông hàng hóa quyết định tính đặc thù của thƣơng mại so với các ngành khác. Ba là, chức năng đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống.
Ở chỗ, thƣơng mại kích thích nhu cầu và luôn tạo ra nhu cầu mới. Qua việc tiêu dùng các hàng hóa, ngƣời tiêu dùng sẽ thấy đƣợc các tính năng, lợi ích hay mức độ thỏa mãn nhu cầu của sản phẩm, từ đó phát sinh các nhu cầu tiếp theo. Thƣơng mại làm cho nhu cầu trên thị trƣờng gần với nhu cầu thực tế, đồng thời nó làm bộc lộ tính đa dạng, phong phú của nhu cầu. Từ đó, qua hoạt động thƣơng mại, các nhà đầu tƣ nắm bắt đƣợc thị hiếu của ngƣời tiêu dùng để trên cơ sở đó 12 e định hƣớng và xác định phƣơng án đầu tƣ, sản xuất, tạo ra những sản phẩm có chất lƣợng đáp ứng với nhu cầu của đời sống.
Tác động và vai trò của hoạt động thương mại đối với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 1. Những tác động của hoạt động thương mại Thứ nhất, hoạt động thƣơng mại tác động tích cực và đóng góp quan trọng vào sự tăng trƣởng kinh tế của địa phƣơng. Thƣơng mại nằm trong xu hƣớng gia tăng chung của ngành thƣơng mại, dịch vụ cũng góp phần vào sự tăng trƣởng kinh tế. Thứ hai, hoạt động thƣơng mại có tác động tích cực để thúc đẩy phân công lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Thứ ba, hoạt động thƣơng mại tác động tốt đến việc giải quyết việc làm và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân địa phƣơng. Sự phát triển của hoạt động thƣơng mại góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, qua đó ngƣời dân có điều kiện tăng cao khả năng tiêu dùng, nâng cao mức tiêu thụ và hƣởng thụ của cá nhân và doanh nghiệp cũng tăng lên góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trƣờng lao động và phân công lao động xã hội. Thứ tư, hoạt động thƣơng mại thúc đẩy quá trình sản xuất, giúp mở rộng sản xuất, trao đổi hàng hóa và sử dụng tối ƣu các nguồn lực kinh tế của địa phƣơng. Ở địa bàn tỉnh, phát triển kinh tế chuyển dần cơ cấu sang hai lĩnh vực là công nghiệp và thƣơng mại – dịch vụ với nhiều lợi thế về mặt địa lý, cơ sở hạ tầng, … thu hút đƣợc nhiều nguồn lực trong cả nƣớc đầu tƣ.
Qua đó hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa đã phát triển nhanh và vƣợt bậc. Các ngành thƣơng mại dịch vụ tài chính và công nghệ cao có điều kiện phát huy và mở rộng. Thứ năm, hoạt động thƣơng mại hỗ trợ phát triển đồng bộ các hoạt động kinh tế - xã hội địa phƣơng. Thông qua hoạt động thƣơng mại trên thị 13 e trƣờng, các chủ thể kinh doanh mua bán đƣợc sản phẩm, góp phần tạo ra quá trình tái sản xuất đƣợc tiến hành liên tục và thông suốt.
Do đó, hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp và ngƣời dân đƣợc mở rộng cả về chiều rộng và chiều sâu, đặc biệt là đầu tƣ vào công nghệ dịch vụ cao, nâng cao sức cạnh tranh và vững mạnh. Thứ sáu, hoạt động thƣơng mại phát triển ở địa phƣơng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đối ngoại, ở chỗ khi đó hoạt động thông thƣơng, giao lƣu mua bán phát triển sẽ đƣa đến giao lƣu không chỉ trong phạm vi quốc gia mà có sự hợp tác, giao lƣu thuong mại với các doanh nghiệp trong khu vực và thế giới. Từ đó giúp ngƣời dân, doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận, hƣởng thụ và nâng cao chất lƣợng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ… hơn nữa. Vai trò của hoạt động thương mại Là một ngành của nền kinh tế quốc dân, thƣơng mại có vai trò quan trọng, là lĩnh vực then chốt.
Việc xác định rõ vai trò của thƣơng mại cho phép tác động đúng hƣớng và tạo đƣợc những điều kiện cho thƣơng mại phát triển. Vai trò của thƣơng mại đƣợc thể hiện cụ thể ở các khía cạnh sau: Thứ nhất, đối với các chủ thể kinh doanh thì thƣơng mại là điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển. Thông qua hoạt động thƣơng mại trên thị trƣờng, các chủ thể kinh doanh mua bán đƣợc các hàng hóa, dịch vụ. Điều đó đảm bảo cho quá trình tái sản xuất đƣợc tiến hành bình thƣờng, lƣu thông hàng hóa dịch vụ thông suốt.
Vì vậy, không có hoạt động thƣơng mại thì sản xuất hàng hóa không thể phát triển đƣợc.