Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng (mã số 62340201) của tác giả Bùi Thị Mến với đề tài "Hoàn thiện chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính ở Việt Nam", được thực hiện tại Học viện Ngân hàng dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Xuân Hải và TS. Hà Thị Sáu vào năm 2017.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Dịch vụ tài chính (DVTC) giữ vai trò thúc đẩy đầu tư, tiết kiệm và phát triển các ngành nghề trong xã hội. Đặc trưng vốn có của DVTC chi phối phương thức quản lý và điều tiết của Nhà nước. Về mặt lý thuyết, việc lựa chọn loại hình DVTC để đánh thuế, phương thức thu và cơ chế quản lý thuế tối ưu vẫn là những vấn đề cần tiếp tục làm sáng tỏ.

Tại Việt Nam, thị trường DVTC gia tăng nhanh về số lượng chủ thể và chủng loại hình dịch vụ. Mặc dù chính sách thuế đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, hệ thống văn bản vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập:

  • Việc xếp nhiều DVTC vào đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) làm triệt tiêu thuế GTGT đầu ra, dẫn đến thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ, gây gián đoạn chuỗi giá trị.
  • Hoạt động cung ứng DVTC qua biên giới thường không có hiện diện thương mại tại Việt Nam, gây rủi ro pháp lý cho khách hàng, tạo bất bình đẳng cạnh tranh với doanh nghiệp nội địa và gây thất thu ngân sách nhà nước (NSNN).
  • Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với cam kết mở cửa 11 ngành dịch vụ, cùng tiến trình tái cấu trúc hệ thống tài chính, chính sách thuế đứng trước áp lực vừa phải bảo đảm nguồn thu NSNN, vừa phải kiến tạo hành lang pháp lý ổn định cho các định chế tài chính vận hành.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trước đây chưa đặt chính sách thuế đối với DVTC trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và tái cấu trúc hệ thống tài chính, cũng như chưa xây dựng một khung lý thuyết nhất quán bao quát đồng thời ba trụ cột: ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định ba mục tiêu cụ thể:

  1. Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về DVTC và chính sách thuế đối với DVTC; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế nhằm rút ra bài học cho Việt Nam.
  2. Đánh giá thực trạng chính sách thuế đối với DVTC tại Việt Nam trong giai đoạn 2009 - 2016 nhằm chỉ ra những tồn tại cùng nguyên nhân căn bản.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm hoàn thiện chính sách thuế đối với DVTC tại Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu:

  1. Chính sách thuế đối với các DVTC có những đặc trưng gì; đặc thù của lĩnh vực DVTC đặt ra yêu cầu gì đối với việc hoàn thiện chính sách thuế?
  2. Những tồn tại căn bản trong chính sách thuế đối với các DVTC ở Việt Nam là gì; xuất phát từ những căn nguyên nào?
  3. Chính sách thuế cần hoàn thiện theo hướng nào, gồm những nội dung cụ thể nào để vừa thúc đẩy thị trường DVTC phát triển và hội nhập, vừa bảo đảm nguồn thu NSNN bền vững?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chính sách thuế đối với các DVTC dưới góc độ quản lý vĩ mô, bao gồm dịch vụ ngân hàng, dịch vụ chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm và chính sách thuế liên quan đến các chủ thể tham gia cung cấp, sử dụng DVTC.
  • Phạm vi không gian: Thực tiễn hệ thống thuế tại Việt Nam, có sự so sánh, đối chiếu với kinh nghiệm của một số quốc gia (Philippines, Brazil, Colombia, Ecuador, Venezuela, Ý, Croatia...).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thực trạng được thu thập và phân tích trong giai đoạn 2009 - 2016. Lộ trình giải pháp được xây dựng đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào ba sắc thuế trực tiếp và gián thu cốt lõi gồm: thuế Giá trị gia tăng (GTGT), thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) áp dụng trong ba lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Tác giả phân loại các công trình quốc tế thành ba nhóm trọng tâm:

  1. Lý thuyết thuế tối ưu đối với lĩnh vực tài chính:

    • Trước năm 2000, Granville (1994), Brock (1997), Honohan (1994, 1996) tập trung tính toán khả năng động viên ngân sách và biến động hành vi của người gửi tiền, nhà đầu tư. Boadway & Keen (1995) nhận định thuế đánh vào khu vực tài chính là một cấu phần không thể tách rời trong hệ thống thuế tối ưu.
    • Caminal (1998) mô hình hóa tác động của các hình thức thuế ngân hàng: thuế tiền gửi làm giảm quy mô tiền gửi và thúc đẩy ngân hàng tìm đến danh mục rủi ro cao hơn; thuế cho vay làm suy giảm lưu lượng tín dụng và chuyển hướng sang huy động trên thị trường chứng khoán; thuế thu nhập vốn nới rộng khoảng cách giữa lợi ích cận biên của đầu tư và tiết kiệm.
    • Jappelli & Pistaferri (1996) phân tích cơ chế ưu đãi thuế đối với tiết kiệm và cho vay hộ gia đình, chỉ ra rằng chính sách ưu đãi tiết kiệm thường chỉ mang lại lợi ích cho nhóm cận trên của phân phối thu nhập và có thể bị triệt tiêu bởi chi phí giao dịch cao chứa đựng "phí làm luật" (được xem là thuế giao dịch ẩn danh theo Djankov et al.).
    • Hubbard (1993) cảnh báo các sắc thuế áp vào khu vực tài chính có thể làm gia tăng mức độ biến động và gây hiện tượng "pha loãng thị trường".
  2. Nghiên cứu về từng sắc thuế và công cụ điều tiết cụ thể:

    • Thuế giao dịch chứng khoán: Habermeier & Kirilenko (2008) kết luận các khoản thuế giao dịch làm tăng chi phí thực hiện (vốn đã chiếm gần 2/3 tổng chi phí khi cộng với hoa hồng môi giới), làm gia tăng biến động giá và suy giảm hiệu quả truyền tải thông tin của thị trường.
    • Thuế ghi nợ ngân hàng (BADT): Kirilenko & Summers (2006) nghiên cứu dữ liệu tại Brazil, Colombia, Ecuador và Venezuela, chứng minh BADT tạo ra tổn thất xã hội rất lớn: Venezuela chịu tổn thất 30% (tổng vốn huy động giảm 28%), Colombia tổn thất 35% (vốn huy động giảm 41%), Ecuador tổn thất 45% (vốn huy động giảm 47%).
    • Thuế lạm phát: Honohan (1994) phân tích cơ chế tương tác giữa thuế lạm phát và các sắc thuế khác lên quy mô của trung gian tài chính.
    • Xử lý dự phòng rủi ro tín dụng: Sunley (2008) nghiên cứu chính sách thuế TNDN đối với trích lập dự phòng tổn thất tín dụng, khuyến nghị không nên cho phép khấu trừ thuế đối với các khoản dự phòng chung nhằm bảo đảm kỷ luật an toàn tài chính.
  3. Nghiên cứu thực nghiệm theo nhóm quốc gia:

    • Nhóm nước phát triển: Levin & Ritter (2007) chỉ ra xu thế cải cách thuế trung gian tài chính từ thập niên 1980 đến 2007 hướng đến việc cắt giảm thuế suất, mở rộng cơ sở tính thuế bằng cách thu hẹp diện miễn thuế, đồng thời gặp khó khăn trong việc đánh thuế thu nhập vốn do độ co giãn cung ứng vốn quá cao trong bối cảnh toàn cầu hóa.
    • Nhóm nước đang phát triển: Cardoso (2005) khảo sát trường hợp Brazil về thuế đúc tiền và dự trữ bắt buộc, đề xuất các nước đang phát triển nên chuyển dịch sang hệ thống thuế dựa trên tiêu dùng thay vì trực thu thu nhập; đồng thời dẫn chứng thực tế cải cách tại Ý và Croatia thường bị giới hạn bởi các yếu tố thể chế chính trị.

Các hướng nghiên cứu trong nước

Các công trình tại Việt Nam được tác giả tổng thuật theo hai hướng:

  1. Giáo trình và lý thuyết quản lý thuế tổng quan:
    • Nguyễn Văn Hiệu & Nguyễn Thị Liên (2008) với Giáo trình nghiệp vụ thuế; Nguyễn Thị Mỹ Linh (2008) với Thuế thực hành; Đỗ Đức Minh & Nguyễn Việt Cường (2007, 2010) với Lý thuyết thuế; Hoàng Văn Bằng (2009) với Lý thuyết và chính sách thuế; Lê Xuân Trường (2010) với Quản lý thuế. Các công trình này cung cấp khung lý luận chung nhưng chưa đi sâu vào tính chất đặc thù của ngành DVTC và chậm cập nhật các sửa đổi pháp lý.
  2. Luận án tiến sĩ nghiên cứu chuyên sâu theo sắc thuế hoặc phân ngành:
    • Nguyễn Xuân Sơn (2007) về chính sách thuế thu nhập trong hội nhập; Vương Thu Hiền (2008) về hệ thống thuế trong bối cảnh gia nhập WTO; Nguyễn Thùy Dương (2011) về quản lý thuế khi hội nhập quốc tế.
    • Đi vào lĩnh vực tài chính có Nguyễn Thị Mai Chi (2012) nghiên cứu thuế GTGT đối với DVTC, trong đó kiến nghị đưa DVTC vào diện chịu thuế GTGT với căn cứ tính thuế là "tiền lương cộng lợi nhuận". Tác giả Bùi Thị Mến chỉ ra phương án này không khả thi trên thực tế vì thuế GTGT kê khai theo tháng/quý trong khi lợi nhuận chỉ xác định theo quý/năm, đồng thời công trình của Nguyễn Thị Mai Chi bỏ qua mảng bảo hiểm.
    • Nguyễn Thị Thuận (2009) nghiên cứu thuế trong lĩnh vực chứng khoán, phân tích tác động của thuế TNCN trên thu nhập ròng đối với việc kìm hãm giao dịch ngắn hạn.

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án khắc phục các khoảng trống của các tài liệu đi trước bằng cách:

  • Xây dựng hệ thống lý luận bao quát toàn diện cả ba phân ngành dịch vụ tài chính chủ chốt (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm) thay vì chia cắt từng ngành đơn lẻ.
  • Đặt bài toán chính sách thuế trong bối cảnh tái cấu trúc định chế tài chính và hội nhập sâu vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) cùng các cam kết thương mại tự do thế hệ mới.
  • Giải quyết bài toán kỹ thuật đánh thuế đối với dòng vốn xuyên biên giới và hiện tượng "vốn mỏng" (thin capitalization) ở các doanh nghiệp tài chính.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm nền tảng

  • Khái niệm Dịch vụ tài chính: Kế thừa định nghĩa của Barry Eichengreen & Poonam Gupta (2008) về sự luân chuyển qua trung gian tài chính, khái niệm của WTO trong Hiệp định GATS (bao gồm dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và các DVTC khác), và phân loại 5 nhóm dịch vụ của Sri. Praveen (2011), luận án xác định: DVTC là các hoạt động dịch vụ được thực hiện qua các trung gian tài chính, tập trung vào ba trụ cột là ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm. Dịch vụ kế toán, kiểm toán, tư vấn tài chính được định vị là nhóm dịch vụ phụ trợ.
  • Đặc trưng DVTC chi phối chính sách thuế:
    1. Chứa đựng nhiều giao dịch rủi ro cao, có tính lan truyền hệ thống;
    2. Tính đa dạng, phức tạp và biến đổi liên tục dựa trên công nghệ tài chính;
    3. Hỗ trợ sự lưu chuyển dòng vốn trong nền kinh tế;
    4. Rất nhạy cảm với lạm phát;
    5. Khả năng tạo ra chênh lệch thuế (tax arbitrage) cao do các định chế chuyên nghiệp dễ tận dụng kẽ hở pháp lý.
  • Khung phân tích chính sách thuế: Luận án dựa trên lý thuyết thuế tối ưu, nguyên tắc đánh thuế trung lập (neutrality) nhằm bảo đảm cả hiệu quả tĩnh (static efficiency - không làm sai lệch phân bổ nguồn lực tức thời) và hiệu quả động (dynamic efficiency - không cản trở tích tụ vốn và đổi mới tài chính), nguyên tắc công bằng (ngang bằng và dọc) và nguyên tắc tiện lợi, tiết kiệm chi phí hành thu.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích thực chứng và kỹ thuật tổng hợp thống kê mô tả:

[Khung lý thuyết thuế tối ưu] ---> [Phỏng vấn sâu chuyên gia] ---> [Khảo sát bảng hỏi bằng phiếu]
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp:
    • Phỏng vấn chuyên gia: Tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ quản lý thuế (Tổng cục Thuế, Cục Thuế), cán bộ làm công tác kế toán - thuế tại các ngân hàng thương mại (NHTM), công ty chứng khoán (CTCK), doanh nghiệp bảo hiểm; đại diện Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Viện Chiến lược và Chính sách tài chính.
    • Khảo sát điều tra bằng bảng hỏi: Tác giả thiết kế phiếu khảo sát chuẩn hóa dựa trên kết quả phỏng vấn sâu, gửi đến các nhóm đối tượng: cán bộ thuế, kế toán thuế tại hội sở và chi nhánh các định chế tài chính, kiểm toán viên, giảng viên chuyên ngành thuế. Kết quả phiếu điều tra được tổng hợp và phân tích định tính bằng phần mềm Microsoft Excel (chi tiết tại Phụ lục 1 của luận án).
  • Thu thập dữ liệu thứ cấp:
    • Báo cáo tài chính đã kiểm toán của hệ thống NHTM, CTCK và doanh nghiệp bảo hiểm giai đoạn 2009 - 2016.
    • Số liệu thống kê số thu NSNN phân theo sắc thuế và lĩnh vực do Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính quản lý.
    • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật Thuế GTGT, Luật Thuế TNDN, Luật Thuế TNCN và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành từ năm 2008 đến năm 2016.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính

Chương 1 hệ thống hóa bản chất của DVTC và khung lý luận về chính sách thuế điều tiết các dịch vụ này:

  • Phân tích bản chất kinh tế của ba phân ngành: dịch vụ ngân hàng (dựa trên quan điểm của David Cox về ba chức năng nhận tiền gửi, vận hành hệ thống thanh toán và cho vay, với quy mô hơn 300 sản phẩm bán lẻ), dịch vụ chứng khoán (môi giới, bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành, quản lý danh mục, cho vay ký quỹ) và dịch vụ bảo hiểm.
  • Làm rõ cơ chế tác động của chính sách thuế lên thị trường tài chính thông qua việc thay đổi chi phí giao dịch, lợi nhuận kỳ vọng và cấu trúc huy động vốn của doanh nghiệp.
  • Tổng kết kinh nghiệm quốc tế thông qua các bảng tổng hợp thực tế:
Bảng Tên bảng trong luận án Nội dung khái quát
Bảng 1.1 Mức thuế đối với phí bảo hiểm ở một số quốc gia Khảo sát mức thuế suất thuế gián thu đánh trên phí bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ tại các thị trường phát triển và đang phát triển.
Bảng 1.2 Thuế trên tổng thu nhập áp dụng trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng tại Philippines Mô hình thu thuế tỷ lệ trên tổng thu nhập gộp (Gross Receipts Tax) đối với các giao dịch tài chính thay cho thuế GTGT.
Bảng 1.3 Chính sách thuế đối với dịch vụ bảo hiểm tại Philippines Phân hóa cơ chế điều tiết thuế giữa các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, tái bảo hiểm và bảo hiểm tài sản.

Chương 1 rút ra bài học cho Việt Nam: việc áp đặt thuế đối với DVTC phải đảm bảo tính tương đương giữa khu vực tài chính và khu vực sản xuất kinh doanh thông thường; tránh lạm dụng ưu đãi thuế làm sai lệch hành vi thị trường; và phải tính toán tới chi phí tuân thủ của người nộp thuế (NNT).

Chương 2: Thực trạng chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính ở Việt Nam

Chương 2 cung cấp bức tranh thực trạng điều tiết thuế tại Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2016:

  • Khái quát thực trạng: Tác giả phân tích quy trình xây dựng chính sách thuế, các mục tiêu động viên ngân sách và các đợt điều chỉnh văn bản quy phạm pháp luật. Luận án ghi nhận sự chuyển biến trong công tác cải cách thủ tục hành chính thuế, thể hiện qua hệ thống số liệu:
Bảng/Biểu Tên bảng / Biểu đồ trong luận án Dữ liệu/Nội dung cốt lõi phản ánh
Bảng 2.1 Loại hình doanh nghiệp DVTC nước ngoài tại Việt Nam Hiện diện thương mại của ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty chứng khoán, bảo hiểm liên doanh.
Bảng 2.2 So sánh kiến nghị của NNT về thuế và sửa đổi chính thức Đối chiếu các vướng mắc của định chế tài chính gửi Bộ Tài chính với nội dung được tiếp thu sửa đổi trong các Thông tư, Nghị định.
Bảng 2.3 Tổng hợp công tác tuyên truyền - hỗ trợ người nộp thuế là NHTM Đánh giá mức độ hỗ trợ tháo gỡ vướng mắc nghiệp vụ thuế phức tạp phát sinh từ sản phẩm tài chính mới.
Bảng 2.4 - 2.6 Phạm vi áp dụng thuế GTGT đối với dịch vụ ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm Phân loại danh mục dịch vụ chịu thuế (5%, 10%) và thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo Luật Thuế GTGT.
Bảng 2.7 So sánh thay đổi chính sách thuế TNDN đối với thu nhập từ dịch vụ ngân hàng Tiến trình điều chỉnh thuế suất TNDN phổ thông từ 28% xuống 25% (2009), 22% (2014) và 20% (từ 2016).
Bảng 2.8 - 2.9 Tình huống tiết kiệm thuế nhờ sử dụng vốn vay & Định mức khống chế chi phí được trừ Lỗ hổng lá chắn thuế từ lãi vay; định mức khống chế chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại (trước khi bị bãi bỏ bởi Luật số 71/2014/QH13).
Bảng 2.10 Thuế TNDN phải nộp của doanh nghiệp bảo hiểm, chứng khoán Biến động nghĩa vụ thuế TNDN thực tế của các định chế tài chính phi ngân hàng.
Bảng 2.11 - 2.13 Thay đổi chính sách thuế TNCN đối với chuyển nhượng chứng khoán, đại lý bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm Thay đổi phương pháp tính thuế chuyển nhượng chứng khoán (lựa chọn 20% trên thu nhập ròng hoặc 0,1% trên giá trị chuyển nhượng, sau chuyển hẳn sang 0,1%); thuế khấu trừ đại lý bảo hiểm (5%).
  • Kết quả điều tra khảo sát:
    • Bi biểu 2.7 - 2.9: Kết quả khảo sát mức độ hài lòng và đánh giá của các chuyên gia đối với tính rõ ràng, minh bạch của các quy định thuế; ghi nhận việc cắt giảm thuế suất TNDN có tác động tích cực đến năng lực tài chính nhưng các quy định về chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN còn nhiều vướng mắc.
    • Biểu đồ 2.11 & Biểu đồ 3.1: Phản ánh tác động của việc áp dụng thuế suất cố định 0,1% trên giá bán chứng khoán đối với thanh khoản thị trường; và khảo sát các yếu tố gây nguy cơ không tuân thủ thuế dẫn tới thất thoát số thu NSNN.
  • Đánh giá hạn chế cốt lõi:
    1. Về thuế GTGT: Xếp dịch vụ cấp tín dụng, kinh doanh chứng khoán và nhiều dịch vụ bảo hiểm vào diện "không chịu thuế GTGT" gây hiện tượng "tích tụ thuế" (cascading effect). Thuế GTGT đầu vào mua sắm tài sản cố định, công nghệ không được khấu trừ mà phải tính vào chi phí, làm tăng giá thành dịch vụ.
    2. Về thuế TNDN: Thiếu quy định kiểm soát hiện tượng "vốn mỏng", doanh nghiệp lợi dụng chi phí lãi vay để chuyển giá và trốn thuế; quy định trích lập dự phòng tổn thất đầu tư chứng khoán và dự phòng nợ xấu còn vênh giữa chuẩn mực kế toán và pháp luật thuế; quy định "thu nhập khác" thiếu nhất quán.
    3. Về thuế TNCN: Việc đánh thuế 0,1% trên giá trị chuyển nhượng chứng khoán bất kể nhà đầu tư lãi hay lỗ tạo ra sự bất bình đẳng, không khuyến khích dòng vốn đầu tư dài hạn.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách thuế đối với các dịch vụ tài chính ở Việt Nam

Chương 3 trình bày hệ thống quan điểm, mục tiêu và ba nhóm giải pháp khả thi:

  • Quan điểm và yêu cầu: Hoàn thiện chính sách thuế phải gắn liền với chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2020; phù hợp với tiến trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm; tương thích với các cam kết tự do hóa tài chính khi hình thành AEC và thực thi các hiệp định thương mại tự do.
  • Các giải pháp cụ thể:
    1. Nhóm giải pháp về quy trình: Nâng cao tính công khai, minh bạch trong quy trình soạn thảo chính sách; rút ngắn khoảng cách thời gian giữa ban hành Luật và Thông tư hướng dẫn thi hành nhằm tránh lúng túng cho các định chế tài chính.
    2. Nhóm giải pháp về nội dung chính sách thuế:
      • Đối với thuế GTGT: Đề xuất phương án từng bước chuyển đổi cơ chế quản lý: áp dụng thuế GTGT đối với DVTC tính theo phương pháp trực tiếp (PPTT) trên số tiền thu được từ hoạt động cung ứng DVTC, tiến tới mở rộng diện chịu thuế để giải quyết điểm nghẽn khấu trừ thuế đầu vào.
      • Đối với thuế TNDN: Ban hành quy định chống vốn mỏng. Tác giả sử dụng số liệu Bảng 3.1 (Tỷ lệ vốn vay/VCSH ở một số quốc gia) và Bảng 3.2 (Tỷ lệ vốn vay/VCSH của một số ngành tại Việt Nam) để kiến nghị: tiến tới dỡ bỏ mức trần khống chế lãi vay chung, thay vào đó áp dụng trần chi phí lãi vay được trừ đối với khoản vay vượt quá tỷ lệ an toàn vốn (vốn vay vượt quá số lần VCSH quy định riêng cho từng lĩnh vực). Thống nhất quy định ghi nhận thu nhập khác và chi phí dự phòng rủi ro.
      • Đối với thuế TNCN: Sửa đổi cách tính thuế đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán của cá nhân theo tỷ lệ phần trăm trên "thực lãi" (chênh lệch giữa tổng giá bán bình quân và tổng giá mua bình quân xác định theo giá trung bình của từng lô giao dịch), ứng dụng hạ tầng công nghệ thanh toán bù trừ để thực hiện khấu trừ tự động.
    3. Nhóm giải pháp điều kiện và kiến nghị thực thi: Tăng cường liên thông dữ liệu giữa Tổng cục Thuế, NHNN và UBCKNN; hiện đại hóa công nghệ giám sát dòng tiền giao dịch xuyên biên giới; hoàn thiện khung pháp lý giám sát thị trường bảo hiểm thông qua kiến nghị đối với Cục Quản lý và Giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận về bản chất, đặc trưng kinh tế của DVTC và chính sách thuế điều tiết DVTC, bao quát đồng bộ ba lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm.
  • Làm rõ tính chất nhạy cảm với lạm phát và nguy cơ chênh lệch thuế (tax arbitrage) của các định chế tài chính – luận điểm chưa được các nghiên cứu trong nước trước đó phân tích đầy đủ.
  • Rút ra bài học từ kinh nghiệm quốc tế về việc đảm bảo tính trung lập kinh tế của thuế, dung hòa giữa hiệu quả tĩnh và hiệu quả động, hạn chế tối đa việc bóp méo thị trường tài chính do động cơ thuế.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng ba sắc thuế cốt lõi (GTGT, TNDN, TNCN) trong khu vực DVTC giai đoạn 2009 - 2016, chỉ rõ căn nguyên của các bất cập: cơ chế không chịu thuế GTGT làm đứt gãy chuỗi khấu trừ; quy định thuế TNDN bỏ sót kiểm soát "vốn mỏng"; thuế TNCN đối với đầu tư chứng khoán còn bất bình đẳng.
  • Kết hợp dữ liệu thứ cấp từ BCTC kiểm toán và số liệu Tổng cục Thuế với dữ liệu sơ cấp từ khảo sát chuyên gia, nâng cao độ tin cậy cho các kết luận đánh giá thực trạng.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật có tính ứng dụng:
    1. Đưa DVTC vào diện chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu dịch vụ.
    2. Xây dựng quy định khống chế chi phí lãi vay hợp lý dựa trên tỷ lệ đòn bẩy vốn vay/vốn chủ sở hữu theo ngành nhằm chống chuyển giá, xói mòn cơ sở thuế qua hiện tượng "vốn mỏng".
    3. Hoàn thiện thuế TNCN từ chuyển nhượng chứng khoán dựa trên thu nhập thực lãi xác định theo giá mua - bán bình quân của từng lô giao dịch.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi dữ liệu giai đoạn 2009 - 2016; các phân tích chủ yếu tiếp cận theo phương pháp định tính và thống kê mô tả dựa trên bảng hỏi điều tra, chưa xây dựng các mô hình kinh tế lượng định lượng (như mô hình cân bằng tổng thể khả tính - CGE hoặc hồi quy dữ liệu bảng) để lượng hóa tổn thất phúc lợi xã hội (deadweight loss) của từng phương án điều chỉnh thuế suất.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế kiểm soát thuế đối với các sản phẩm công nghệ tài chính mới (Fintech), tiền mã hóa, tài sản số và các giao dịch tài chính phi tập trung xuyên biên giới; ứng dụng mô hình định lượng đo lường độ co giãn của nguồn thu thuế trước sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế trong các giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế): Cung cấp luận cứ thực tiễn để sửa đổi Luật Thuế GTGT, Luật Thuế TNDN (đặc biệt là quy định chống vốn mỏng và xử lý chi phí dự phòng tín dụng) và Luật Thuế TNCN đối với giao dịch chứng khoán.
  • Đối với các định chế tài chính (NHTM, CTCK, Doanh nghiệp bảo hiểm): Hỗ trợ bộ phận kế toán, quản trị rủi ro và tư vấn tài chính nhận diện các rủi ro pháp lý về thuế, tối ưu hóa chi phí tuân thủ và xây dựng chiến lược kinh doanh thích ứng với lộ trình cải cách thuế.
  • Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên chuyên ngành Tài chính - Thuế: Là tài liệu tham khảo có giá trị tổng quan cao về hệ thống lý thuyết thuế tối ưu áp dụng trong khu vực tài chính, khung phân tích kinh nghiệm quốc tế và phương pháp thiết kế phiếu điều tra khảo sát chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế ứng dụng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án cho rằng quy định DVTC không chịu thuế GTGT lại gây bất lợi cho chính các tổ chức tài chính?

Khi DVTC thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, các tổ chức tài chính không được kê khai phát sinh thuế GTGT đầu ra. Hệ quả là toàn bộ thuế GTGT đầu vào hình thành từ việc mua sắm máy móc, trang thiết bị, bản quyền công nghệ thông tin và thuê dịch vụ không được khấu trừ hay hoàn thuế, mà buộc phải kết chuyển vào chi phí hoạt động. Điều này làm tăng chi phí dịch vụ, tạo sự tích tụ thuế qua nhiều tầng nấc và làm giảm năng lực cạnh tranh của định chế tài chính trong nước.

2. Luận án đề xuất giải pháp kỹ thuật gì để xử lý thuế GTGT đối với DVTC tại Việt Nam?

Tác giả đề xuất đưa DVTC vào diện chịu thuế GTGT nhưng áp dụng phương pháp tính trực tiếp (PPTT) trên số tiền thu được từ việc cung ứng dịch vụ tài chính. Giải pháp này giúp khắc phục khó khăn trong việc bóc tách giá trị gia tăng thuần của từng giao dịch tài chính riêng lẻ (vốn phụ thuộc phức tạp vào chênh lệch lãi suất), đồng thời tạo cơ sở từng bước hoàn thiện chuỗi khấu trừ thuế trong nền kinh tế.

3. Vấn đề "vốn mỏng" (thin capitalization) trong lĩnh vực DVTC được luận án nhận diện và kiến nghị xử lý ra sao?

Luận án chỉ ra rằng pháp luật thuế TNDN giai đoạn 2009 - 2016 chưa có quy định khống chế hiện tượng vốn mỏng, dẫn tới tình trạng nhiều doanh nghiệp duy trì tỷ lệ đòn bẩy vốn vay trên vốn chủ sở hữu quá cao nhằm tạo lá chắn thuế từ chi phí lãi vay, làm xói mòn cơ sở thuế. Tác giả kiến nghị bãi bỏ mức trần khống chế lãi vay thuần túy theo lãi suất, thay vào đó áp dụng quy định không tính vào chi phí hợp lý đối với phần chi phí lãi vay tương ứng với khoản vay vượt quá tỷ lệ an toàn vốn (vốn vay/vốn chủ sở hữu), với định mức cụ thể phân hóa theo từng ngành nghề kinh doanh.

4. Bất cập cốt lõi của thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán được luận án chỉ ra là gì?

Phương thức đánh thuế cố định 0,1% trên tổng giá trị chuyển nhượng mỗi lần giao dịch (dù nhà đầu tư bán lỗ vẫn phải nộp thuế) vi phạm nguyên tắc công bằng của thuế thu nhập và làm méo mó tâm lý thị trường, triệt tiêu động lực của các nhà đầu tư ngắn hạn. Luận án đề xuất phương án thu thuế tính trên tỷ lệ phần trăm của "thực lãi" (chênh lệch giữa giá bán bình quân và giá mua bình quân theo lô giao dịch) dựa trên sự hỗ trợ của hệ thống công nghệ thông tin từ Trung tâm Lưu ký Chứng khoán và các CTCK.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Thị Mến đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về thuế tối ưu trong khu vực tài chính, làm rõ các đặc trưng cốt lõi chi phối cơ chế điều tiết thuế đối với các định chế ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm. Thông qua việc phân tích thực trạng giai đoạn 2009 - 2016 bằng sự kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp và điều tra chuyên gia, tác giả đã chỉ rõ những nút thắt thể chế lớn như hiện tượng tích tụ thuế GTGT, rủi ro chuyển giá từ vốn mỏng và sự bất bình đẳng trong thuế TNCN từ chứng khoán. Các đề xuất hoàn thiện chính sách thuế được thiết kế đồng bộ với lộ trình hội nhập tài chính quốc tế và cải cách hệ thống thuế tại Việt Nam, cung cấp luận cứ khoa học có giá trị thực tiễn cao cho các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng nghiên cứu tài chính công.