Chương 1: Giới thiệu Trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của luận văn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài nghiên cứu. Trình bày giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình lý thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu, giới thiệu các phương pháp nghiên cứu.
Đề xuất mô hình nghiên cứu và mô tả dữ liệu nghiên cứu, nguồn dữ liệu được lấy để thực hiện nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Trình bày phân tích thống kê mô tả, kết quả phân tích của các mô hình kinh tế lượng. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày kết luận và kiến nghị. Nêu hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUẾ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2. Tổng quan về thuế 2. Lý luận chung về thuế Theo lịch sử phát triển xã hội, thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước. Để duy trì sự tồn tại và phát triển thì nhà nước chúng ta cần có nguồn tài chính ổn định để chi tiêu cho mọi hoạt động từ trung ương đến địa phương như: quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế,.
Để có được nguồn tài chính như vậy nhà nước dùng quyền lực để buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho nhà nước, và thuế là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính. Có thể coi thuế là một khoản đóng góp có tính chất bắt buộc cho chính phủ, được thực hiện mà không đề cập đến lợi ích cụ thể nào đối với người đóng thuế. Thuế khác với đa số những khoản chuyển giao tiền từ người này sang người khác, các khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là khoản thu bắt buộc. Thuế trên thực tế đã tồn tại từ khá lâu, từ khi các chính phủ được tổ chức ra, từ lúc nhà nước xuất hiện và hình thành.
Thuế luôn là một phần trong sự tồn tại của hệ thống nhà nước, đồng thời thuế cũng giúp bộ máy nhà nước phát triển. Hiện nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế. Các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế mà mình muốn tìm hiểu, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế. Ví dụ: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Theo các nhà kinh tế học thì thuế được quan niệm rất đơn giản: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của nhà nước đó là thuế khoá.
Theo quan điểm này, thuế đơn giản là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực của nhà nước. Mác cho rằng trong một nhà nước có giai cấp (một giai cấp giành được quyền thống trị), thuế là một khoản đóng góp bắt buộc để duy trì quyền lực của giai cấp đó. Đối với những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, họ sẽ cho rằng việc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ giai cấp cai trị, họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ của mình và họ sẽ tìm cách tránh thuế, trốn thuế. Chính những quan điểm này đã hỗ trợ cho tư tưởng đấu tranh giai cấp.
Bên cạnh đó, theo hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy-M, thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hoá, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật (Makkollhell and Bruy-M, 1993, trích bởi Tổng cục Thuế, 2011). Quan điểm này chỉ được nhìn nhận trên góc độ các đối tượng nộp thuế chịu thuế, không nói đến việc sử dụng tiền thu thuế để làm gì; việc đánh thuế được thể hiện như là nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước. Các quan điểm này chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển của thuế trong thời điểm lịch sử nhất định lúc đó. Ngoài ra, thuế là sự đóng góp mang tính cưỡng chế của mỗi người cho chính phủ để trang trải các chi phí và lợi ích chung không căn cứ vào lợi ích riêng được hưởng (Edwin RA Seligman, 1913, trích bởi Nguyễn Thanh Tuyền, 2004).
Theo Nguyễn Phước Tiên (2008), thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo đối tượng, mức độ và thời hạn được pháp luật quy định để tạo thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu trong thực hiện các chức năng của nhà nước. Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế học khi đưa ra khái niệm về thuế ở các góc độ khác nhau, đều thể hiện bản chất của thuế là: - Thuế là khoản tiền đóng góp bắt buộc cho nhà nước. Đối tượng nộp thuế, mức đóng thuế đều có quy định của nhà nước. - Không hoàn lại trực tiếp số tiền đã nộp cho người nộp thuế.
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Ở nước ta, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế. Nhưng theo Bộ Tài Chính thì “Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo pháp luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng” (Tổng cục Thuế, 2011). Tại Việt Nam, số tiền thu được từ thuế đóng góp vào ngân sách nhà nước, ủy ban nhân dân các cấp được quyền điều hành sử dụng theo Luật Ngân sách nhà nước.
Để thực hiện đúng bản chất là nhà nước là của dân, do dân và vì dân thì tiền thuế được sử dụng để phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội. Đặc điểm của thuế Thứ nhất, thuế là khoản thu mang tính bắt buộc của nhà nước. Tính chất này xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của nhà nước nhằm mục đích quản lý và phục vụ lợi ích xã hội. Khi luật thuế đã được nhà nước ban hành thì tính chất bắt buộc nộp thuế là tất yếu.
Chính sách thuế được ban hành là sự thể hiện quyền lực của nhà nước và có tính pháp lý tối cao trong việc quy định nghĩa vụ cơ bản của mọi tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp thuế vào ngân sách nhà nước. Tính bắt buộc nộp thuế đảm bảo sự công bằng về nghĩa vụ công dân, bảo đảm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 nguồn thu tiền thuế vào ngân sách nhà nước ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thứ hai, thuế là khoản thu mang tính không hoàn lại trực tiếp cho người nộp thuế dựa trên mức độ số tiền đã nộp cho nhà nước. Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình tương ứng theo số tiền thuế đã nộp.
Bởi vì, tiền thuế được nhà nước sử dụng vào các nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước trong thực hiện chức năng quản lý xã hội và phục vụ lợi ích chung của quốc gia; trong đó có lợi ích của người nộp thuế. Đặc trưng này đảm bảo quyền sử dụng tiền thuế của nhà nước. Thuế có thể coi là công cụ quan trọng để huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước, nhưng không phải vì thế nhà nước có thể quy định mức thuế cao để tăng thu bằng mọi giá. Nếu nhà nước dùng quyền lực để tập trung quá mức phần thu nhập từ GDP vào ngân sách nhà nước thì phần GDP còn lại sẽ giảm xuống.
Đến một thời điểm nào đó, những tổ chức, cá nhân kinh doanh nhận thấy rằng, công sức bỏ vào làm việc và kinh doanh của họ không được bù đắp thoả đáng thì họ sẽ không kinh doanh nữa hoặc tìm cách trốn thuế. Có thể thấy rằng, khả năng thu thuế tối đa cho ngân sách nhà nước là khoản thu nhập mà các tổ chức, cá nhân kinh doanh sẵn sàng giành ra để trả thuế mà không làm thay đổi mọi hoạt động vốn có của họ. Tuy nhiên, cho dù ở thời kỳ nào thì thuế vẫn cơ bản là bắt buộc và là phương tiện duy nhất để huy động nguồn thu nhằm tài trợ cho việc chi tiêu của chính phủ cho những hàng hóa, dịch vụ mà phần lớn chúng ta đều có nhu cầu. Chức năng của thuế Chính sách thuế là một bộ phần không thể thiếu được trong hệ thống chính sách tài chính của mỗi quốc gia, là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế – xã hội của đất TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Vai trò của chính sách thuế được thể hiện qua những chức năng cơ bản của nó: Chức năng định hướng: Chính sách thuế góp phần định hướng cho nhà quản lý thu và nộp thuế một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời và hợp lý. Do có chính sách thuế từ nhà nước ban hành mà giúp các nhà sản xuất, kinh doanh định hướng, xác định ngành nghề kinh doanh để mang lại hiệu quả phù hợp với khả năng và năng lực của mình. Chức năng điều tiết nền kinh tế: Nền kinh tế tồn tại song song những mặt tích cực và những hạn chế, vì vậy cần có sự can thiệp của nhà nước vào quá trình hoạt động của nền kinh tế. Nhà nước điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô bằng cách đưa ra những chuẩn mực mang tính định hướng lớn trên diện rộng và bằng công cụ đòn bẩy để hướng các hoạt động kinh tế – xã hội theo các mục tiêu nhà nước đã định tạo ra hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế – xã hội thực hiện trong khuôn khổ luật pháp.
Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết nền kinh tế – xã hội bằng nhiều biện pháp như giáo dục chính trị tư tưởng, hành chính, luật pháp và kinh tế, trong đó biện pháp kinh tế làm gốc.