Chương 1, Điều 3,Bộ Luật Lao Động, 2012: “Người lao động là người đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Tùy thuộc vào mục đích ý nghĩa và yêu cầu quản lý khác nhau mà có thể phân loại theo các tiêu chuẩn khác nhau. Căn cứ vào tính chất của công việc người lao động đảm nhận có thể chia làm 2 loại: lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Lao động trực tiếp là những người trực tiếp thực hiện công việc sản xuất ra các sản phầm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ.
Trong lao động trực tiếp ta có thể phân loại: - Theo nội dung công việc mà người lao động thực hiện, lao động trực tiếp được chia thành: Lao động sản xuất kinh doanh chính, lao động sản xuất kinh doanh phụ trợ, lao động của các hoạt động khác. - Theo năng lực và trình độ chuyên môn lao động trực tiếp chia thành: Lao động tay nghề cao và lao động có tay nghề trung bình. Lao động gián tiếp: là những người không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất mà chỉ chỉ đạo, phục vụ hoặc quản lý trong doanh nghiệp. Ta có thể phân loại lao động gián tiếp như sau: - Theo nội dung công việc và nghề nghiệp chuyên môn lao động gián tiếp được chia thành: nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính.
SVTH: Hồ Thị Lụa – Lớp: K47A - QTKDTH 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Tài Phúc - Theo năng lực và trình độ chuyên môn lao động gián tiếp chia thành: chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự, nhân viên. Khái niệm thù lao lao động Hiện nay tùy vào cách hiểu hay từng góc độ nghiên cứu khác nhau thì thù lao lao động có những định nghĩa khác nhau. Theo Nguyễn Quốc Tuấn và những cộng sự, Quản trị nguồn nhân lực, 2006, trang 222: “Một tồ chức tồn tại để đạt được mục tiêu và mục đích cụ thể. Các cá nhân là việc cho tổ chức có những nhu cầu riêng.
Một trong những nhu cầu đó là tiền, nó cho phép họ mua các loại hàng hóa khác và các dịch vụ khác nhau hiện hữu trên thị trường. Vì vậy có cơ sở cho sự trao đổi: nhân viên phải thực hiện những hành vi lao động mà tổ chức mong đợi nhằm đạt được những mục tiêu và mục đích của tổ chức để đỏi lại việc tổ chức sẽ trả cho họ tiền bạc, hành hóa dịch vụ”. “Tập hợp tất cả các khoản chi trả dưới hình thức như tiền, hàng hóa dịch vụ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động gọi là thù lao lao động”. Theo Bùi Văn Chiêm - (Quản trị nhân lực,2013, trang 133, Đại học Huế): “Thù lao lao động là tất cả các khoản mà người lao động nhận được thông qua mối quan hệ thuê mướn giữa họ với tổ chức” Tóm lại nói một cách dễ hiểu thù lao lao động là các khoảng mà người lao động nhận được sau quá trình làm việc, tạo ra các dịch vụ mà người sử dụng lao động chi trả.
Các khoản đó có thể bằng vật chất hay phi vật chất (tinh thần). SVTH: Hồ Thị Lụa – Lớp: K47A - QTKDTH 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Tài Phúc Thù lao lao động gồm 2 phần: Thù lao vật chất (tài chính) và thù lao phi vật chất (tài chính). Thù lao lao động Thù lao tài chính Thù lao phi tài chính Trực ti p Gián ti p Công việc Môi trƣờng - Bảo hiểm - Công việc lý thú - Quan hệ thân - Lương cơ bản - Trợ cấp và đa dạng mật với mọi - Lương phụ trội người - Phúc lợi - Cơ hội học hỏi - Tiền vuợt năng - Hưu trí và thăng tiến - Cơ hội tham gia suất quyết định - Tiền thưởng - Điều kiện làm - Lợi nhuận việc thỏa mái Hình 2.1:Thành phần thù lao lao động 1. Các thành phần thù lao lao động 1.
Tiền lƣơng, tiền công a) Một số khái niệm tiền lương, tiền công Đề đạt được hiệu suất cao, đối với mỗi tổ chức trả công là một hoạt động quản trị nhân sự có ý nghĩa rất quan trọng. Nó không chỉ là một phần quan trọng trong kinh phí sản xuất mà còn là một phần cơ bản nhất trong thu nhập người lao động. Vì vậy mội tổ chức cần nắm rõ khái niệm về tiền lương, tiền công để đưa phương pháp quản lý phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Trên thực tế có nhiều khái niệm về tiền lương: Theo tổ chức lao động quốc tế (Internatisonal Labour Organization – ILO) định nghĩa “Tiền lương là sự trả công thu nhập , bất luận tên gọi hay cách tính thế nào mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, hoặc bàng văn bản pháp luật, pháp quy mỗi quốc gia, do người sử dụng lao động trả cho người lao động theoc lao động hợp đồng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện , hoặc cho những dịch vụ đã làm hay phải làm”.
SVTH: Hồ Thị Lụa – Lớp: K47A - QTKDTH 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Tài Phúc Theo Bộ Luật Lao Động, Điều 55 (2012): “ Tiền lương người của lao động do hai bên thõa thuận trong hợp đồng và chịu trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc”. Mức tiền lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định. Như vậy, tiền lương có thể được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được tương ứng với công sức họ bỏ ra trong quá trình làm việc từ người sử dụng lao động. Tiền công là một tên gọi khác của tiền lương.
Tiền công gắn trực tiếp hơn với các quan hê thỏa thuận mua bán sức lao động và thường được sử dụng trong sản xuất, kinh doanh dịch vụ, các hợp đồng dân sự thuê mướn lao động có thời hạn. Khái niệm tiền công được sử dụng phổ biến trong những thỏa thuận thuê công nhân trên thị trường tự do và có thể gọi đó là giá công lao động. Tuy nhiên, trong thực tế tiền công và tiền lương thường được dùng lẫn lộn để chỉ phần thù lao cơ bản, cố định mà người lao động nhận được trong tổ chức. b) Các chức năng của tiền lương, tiền công Từ các khái niệm trên cho thấy bản chất của tiền lương là biểu hiện của sức lao động của người lao động.
Tiền lương có thể có những chức năng sau: - Chức năng thước đo giá trị sức lao động: Tiền lương biểu thị giá cả sức lao động có nghĩa nó là thước đo để xác định mức tiền công các loại lao động, là căn cứ để thuê mướn lao động, là cơ sở xác định đơn giá sản phầm. - Chức năng tái sản xuất sức lao động: Thu nhập của người lao động dưới hình thức tiền lương được sử dụng một phần đáng kể vào việc tái sản xuất giản đơn sức lao động mà họ đã bỏ ra trong quá trình lao động nhằm mục đích duy trì năng lực làm việc lâu dài và có hiệu quả cho quá trình sau. Tiền lương của người lao động là nguồn sống chủ yếu không chỉ của người lao động mà còn phải đảm bảo cuộc sống của các thành viên trong gia đình họ. Như vậy tiền lương cần phải bảo đảm cho nhu cầu tái sản xuất mở rộng cả về chiều sâu lẫn chiều rộng sức lao động.
- Chức năng kích thích: Trả lương một cách hợp lý và khoa học sẽ là đòn bẩy quan trọng hữu ích nhằm kích thích người lao động làm việc một cách hiệu quả. - Chức năng tích lũy: Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo duy trì được cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc và còn dự phòng cho cuộc sống lâu SVTH: Hồ Thị Lụa – Lớp: K47A - QTKDTH 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Tài Phúc dài khi họ hết khả năng lao động hay gặp rủi ro. c) Phân loại tiền lương Tùy thuộc vào từng mục đích mà tiền lương được phân loại theo các tiêu chí khác nhau: Theo quan hệ sản xuất tiền lương được phần chia làm 2 loại: lương trực tiếp và lương gián tiếp: - Lương trực tiếp: là lương trả cho người lao động trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm hay trực tiếp thực hiện tạo ra dịch vụ. - Lương gian tiếp: Là lương trả cho những lao động tham gia gián tiếp vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Họ thuộc các bộ phận quản lý, điều hành, hành chính kế toán. Theo thời gian lao động tiền lương được chia làm 2 loại: lương của lao động thường xuyên và lao động không thường xuyên. - Lương lao động thường xuyên: là lương của lao động ký hợp đồng chính thức ký hợp đồng cới doanh nghiệp không bao gồm thử việc. Các lao động tham gia liên tục vào quá trình làm việc.
- Lương lao động không thường xuyên: là lương trả cho các lao động thời vụ. d) Ý nghĩa của tiền lương, tiền công Trả công cho lao động là một hoạt động quan trọng trong công tác quản lý nhân sự của các tổ chức, doanh nghiệp. Tuy nhiên chính sách trả công của trả công tùy thuộc vào khả năng chi trả và ý muốn trả công của người sử dụng lao động cho người lao động dựa trên sự đóng góp của họ. Một doanh nghiệp có cơ cấu tiền công hợp lý sẽ tạo cơ sở xây dựng và duy trì đội ngũ công nhân viên giỏi.
Vì vậy các nhà quản lý phải quản trị hiệu quả các chính sách tiền lương, nó không chỉ ảnh hưởng tới người lao động mà còn tới cả tổ chức và xã hội: - Đối với người lao động: Tiền lương là thu nhập cơ bản nhất của người lao động, giúp cho họ có thể chi trả chi tiêu, sinh hoạt các dịch vụ cần thiết. Tiền lương kiếm được ảnh hưởng đến địa vị của người lao động trong gia đình, địa vị của họ tương quan với các bạn đồng nghiệp cũng như giá trị tương đối của họ đối với SVTH: Hồ Thị Lụa – Lớp: K47A - QTKDTH 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Tài Phúc tổ chức và đối với xã hội. Thông thường những người có tiền công tiền lương cao thường có sức ảnh hưởng đến các quyết định trong công việc cũng như trong cuộc sống.