chương 1 các nghiên cứu ở nước ngoài cũng như ở VN đã nghiên cứu và công bố liên quan đến đề tài nghiên cứu được tác giả hệ thống hóa. Các nghiên cứu được trình bày theo ba hướng. Thứ nhất tác giả trình bày và nhận xét về ảnh hưởng giữa TTKT đến quyết định chiến lược. Thứ hai tác giả trình bày và nhận xét các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc ra quyết định chiến lược đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và cuối cùng tác giả trình bày và nhận xét các nghiên cứu về ảnh hưởng của TTKT đến HQHĐ của các DN.
Thực hiện việc này với mục tiêu kế thừa và so sánh các cách nghiên cứu, các lý thuyết được tìm hiểu và mô hình nghiên cứu được dùng để tìm ra khoảng trống. Tổng quan nghiên cứu về ảnh hưởng của thông tin kế toán đến quyết định chiến lược và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp 1. Các nghiên cứu trên thế giới 1. Ảnh hưởng thông tin kế toán đến ra quyết định chiến lược Trong nghiên cứu của Bruns (1968) về TTKT và việc ra QĐ: một số giả thuyết hành vi.
Tác giả phát triển mô hình liên quan đến một số yếu tố có thể xác định khi các QĐ bị ảnh hưởng bởi TTKT. Các giả thuyết dựa trên mô hình này được dự định để phát triển và định hướng nghiên cứu kế toán và ra QĐ. Tác giả không kiểm định mô hình, tác giả thảo luận và chứng minh một số hàm ý trong số các ảnh hưởng được giả thuyết đưa ra. Tác giả dùng các lý thuyết các giả định để để chứng minh sự cần thiết của TTKT tác động đến hành vi ra QĐ.
Tác giả đã phát triển các giả thuyết liên quan đến người dùng TTKT từ nghiên cứu này và kết quả cho thấy TTKT đáp ứng nhu cầu đối với việc ra QĐ, việc nhận thức kế toán của người ra QĐ, ảnh hưởng của TTKT đối với các QĐ. Hạn chế của nghiên cứu là chỉ xem xét TTKT tài chính và không có thử nghiệm nào về các giả thuyết. Bushmana và cộng sự (2001) nghiên cứu về TTKT tài chính và quản trị DN. Tác giả căn cứ và các nghiên cứu trước đây về kế toán và tài chính từ đó đưa ra các kết luận cho nghiên cứu của mình nhờ kết quả nghiên cứu định tính.
Kết quả còn cho thấy vai trò báo cáo của TTKT tài chính công khai trong quy trình quản trị của các CT. Tác giả cũng cho rằng, việc sử dụng TTKT tài chính trong cơ chế quản trị DN là một kênh mà TTKT tài chính có thể tăng cường QĐ đầu tư nâng cao năng suất của các CT. Tiếp theo nghiên cứu xem xét việc sử dụng TTKT tài chính trong các cơ chế quản trị DN trên phạm vi toàn cầu hơn trong nghiên cứu chuyên sâu của mình. Bushman và cộng sự (2003) minh bạch TTKT tài chính và quản trị DN.
Tác giả thảo luận và khảo nghiệm về vai trò quản trị của TTKT tài chính trên cơ sở các nghiên cứu trước. Tác giả chú trọng về TTKT và vào chức năng quản trị của nó. Từ kết quả cho ra một khuôn khổ độc lập ba kênh mà qua đó việc sử dụng TTKT sẽ ảnh hưởng đến các khoản đầu tư, năng suất và giá trị kinh doanh. Kênh đầu tiên nói đến là các NQL và nhà đầu tư để xác định cơ hội đầu tư thì họ phải sử dụng TTKT tài chính như thế nào? Kênh thứ hai TTKT tài chính được dùng trong các cơ chế kiểm soát DN mà các NQL hướng các nguồn lực vào các dự án tốt và bỏ qua các dự án xấu.
Kênh thứ ba là việc sử dụng TTKT tài chính để giảm mất cân đối tin tức giữa những người mua cổ phần. Việc dùng TTKT trong các cơ chế quản trị cụ thể được xem xét. Hạn chế của nghiên cứu là chỉ dựa trên khía cạnh kinh tế học về việc sử dụng TTKT trong các cơ chế quản trị cụ thể và nghiên cứu không nhắc đến KTQT trong nghiên cứu. Trong nghiên cứu của Seal (2006) về KTQT và QTCT.
Tác giả tìm hiểu cách thức KTQT có kết nối đến QTCT? Nghiên cứu nói về khía cạnh KTQT là yếu tố liên kết các tổ chức của CT với các CT bên ngoài và các bên liên quan. Bài viết cho thấy các câu chuyện mới mà trong đó nghề KTQT có sự nhạy cảm đặc biệt. Mặc dù các kỹ thuật rút ra từ KTQT chiến lược có thể được sửa lại để thích nghi hơn với thực tiễn QTCT, tác giả chỉ ra những căng thẳng giữa CEO tài giỏi và cuộc cải cách chiến lược từ KTQT mang lại. Đặc biệt, tác giả đã khám phá vai trò của KTQT chiến lược trong việc thiết lập một chiến lược hoạt động của CT mạnh mẽ hơn và được thể chế hóa hơn, mang tính hệ thống hơn và củng cố các thông tin đầu vào của NQL giúp họ điều hành và ra QĐ khoa học hơn.
Nghiên cứu có hạn chế là chỉ xem xét vai trò của KTQT. Brown và cộng sự (2011) nghiên cứu kế toán và tài chính, quản trị DN. Tài liệu liên quan được tổng hợp, thống kê, thảo luận và phân tích được dùng để đưa ra kết quả. Xem xét nghiên cứu kế toán dưới góc độ quản trị DN là mục tiêu.
Kết quả đưa ra vấn đề quản trị DN có tương quan với KTTC và đề xuất phương pháp giải quyết mối quan hệ đó. Trước sự ra đời của dữ liệu quản trị DN thương mại lớn, tầm quan trọng của các phương pháp đo lường QTCT được tác giả nhấn mạnh. Ngoài ra sự giám sát lớn hơn có ảnh hưởng tốt đến tất cả các thước đo chất lượng kế toán, dẫn đến cung cấp thông tin kịp thời hơn, thông tin được cung cấp nhiều hơn, ít có sai sót và tỷ lệ gian lận thấp hơn. Đáp ứng được sự cần thiết của TTKT cho tất cả các NQL trong điều hành, ra QĐ tại CT ở các tiêu chuẩn quản trị tối thiểu.
Trong nghiên cứu của Wall và Greiling (2011) về TTKT để ra QĐ trong quản lý giá trị các chủ đầu tư và các bên liên quan. Từ góc độ so sánh và phân tích nghiên cứu xác định sự khác biệt và điểm chung về TTKT nhằm mục đích đóng góp cho quản lý ra QĐ theo giá trị của cổ đông so với quản lý giá trị của các bên liên quan. Cho rằng TTKT có thể liên quan đến việc ra QĐ của NQL theo hai cách: trực tiếp như đầu vào cho các QĐ hoặc gián tiếp đến hành động của NQL. Tác giả đưa ra các nhận xét ưu nhược điểm của TTKT liên quan đến quản lý người sở hữu cổ phần cho việc ra QĐ quản lý.
Ở góc độ so sánh tác giả thấy rằng các cách tiếp cận trong quản lý giá trị cổ đông tiên tiến hơn nhiều. Đặc biệt, hai vai trò của TTKT trong quản lý giá trị cổ đông được thể hiện trong các kỹ thuật kế toán liên quan đến việc tập trung vào việc tăng giá trị DN. Các mô hình thúc đẩy giá trị hoặc các thước đo hiệu suất dựa trên thu nhập thặng dư là ví dụ. Trong khi đó, các kỹ thuật kế toán hỗ trợ NQL ra QĐ trong việc quản lý các bên liên quan không tiên tiến bằng.
Trong nghiên cứu của Carraher và Auken (2013) việc sử dụng các BCTC để NQL DN nhỏ ra QĐ. Sử dụng mẫu gồm 312 DN nhỏ để kiểm tra việc sử dụng BCTC bằng cách chẩn đoán (1) lợi ích mang lại từ việc sử dụng BCTC và (2) sự tự tin của chủ sở hữu trong việc giải thích BCTC. BCTC cung cấp thông tin quan trọng để giúp ra QĐ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra doanh thu tăng lên từ việc NQL tự tin sử dụng BCTC để ra QĐ thực hiện công việc tại CT.
Ngoài ra chủ DN dùng BCTC khi ra QĐ được thực hiện có liên quan gián tiếp đến trình độ học vấn và việc báo cáo được lập bởi dịch vụ kế toán bên ngoài có liên quan trực tiếp đến sự tự tin của chủ sở hữu trong việc giải thích thông tin trong BCTC. Kết quả sẽ hữu ích cho chủ sở hữu của các DN và các người bán hàng cho các DN để hiểu rõ hơn những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc sử dụng BCTC và quá trình đưa BCTC vào việc ra QĐ. Dănescu và cộng sự (2015) các quan điểm về kế toán – quản trị DN – kiểm soát nội bộ được nghiên cứu. Thông tin từ BCTC được phân tích, so sánh để xác định mối quan hệ và mối liên hệ giữa các biến được phân tích.
Các giả thuyết được xây dựng, tác giả nghiên cứu các lý thuyết thông qua nghiên cứu tài liệu chuyên ngành, các chuẩn mực và quy định cụ thể về QTCT, kiểm soát nội bộ và TTKT. Khi đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả cho rằng quá trình nội bộ hóa và toàn cầu hóa của các quốc gia đòi hỏi phải thực hiện một số cơ chế lãnh đạo và kiểm soát thích hợp để quản lý tương ứng các yêu cầu ngày càng phức tạp hơn mà các DN đang phải đối mặt. Từ kết quả này giúp NQL có nền tảng lập các kế hoạch chiến lược thích hợp tốt trong tương lai cho DN trong điều kiện an toàn, cải thiện sự không cân đối và tự tin rằng thông tin được dùng hiệu quả trong quá trình ra QĐ nội bộ và bên ngoài. Nghiên cứu nhấn mạnh KTTC và KTQT có vai trò QĐ trong việc đưa ra thông tin có lợi được NQL dùng ra QĐ của mình.
Trong nghiên cứu của Ježovita (2015) TTKT trong việc ra QĐ kinh doanh ở Croatia. Xem xét tầm quan trọng của BCTC và việc phân tích BCTC trong quá trình ra QĐ kinh doanh là mục đích của nghiên cứu. Bảng câu hỏi dùng để thu thập dữ liệu cho nghiên cứu, bao gồm 25 câu hỏi được chia thành hai loại, thông tin chung, thông tin ra QĐ kinh doanh và sử dụng dữ liệu kế toán cho các mục đích đó. Bảng câu hỏi đã được gửi đến 2.593 CT nhỏ, vừa và lớn, các CT thuộc nhiều loại hình phù hợp với phân loại hoạt động kinh tế 2007 tại Croatia, bao gồm 21 ngành nghề.
Dùng phân tích dữ liệu liên quan đến thang đo Likert, các phép đo giá trị trung bình như mod hoặc trung vị và các phép thử tham số thích hợp được sử dụng. Việc sử dụng dữ liệu kế toán và BCTC hàng năm trong quá trình ra QĐ kinh doanh được tác giả tập trung phân tích xác định và đánh giá tần suất.