Phần mở đầu Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu cũng như tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chương 2: Cơ sở lý luận Trình bày tổng quan lý thuyết về tham nhũng và FDI, cũng như dẫn chứng một số nghiên cứu có liên quan về mối quan hệ giữa tham nhũng và FDI. Chương 3: Thực trạng tham nhũng và thu hút FDI tại khu vực Đông Nam Á Trình bày các số liệu đã được công bố, cũng như đánh giá từ các tổ chức, các bản báo cáo về tình trạng tham nhũng cũng như tình trạng thu hút dòng vốn FDI thực tế tại khu vực Đông Nam Á. Đưa ra các thông số, dữ liệu thống kê và có sự so sánh giữa các quốc gia và các khu vực với nhau.
Chương 4: Phương pháp nghiên cứu Trình bày và mô tả các biến phân tích, phương pháp phân tích, mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 5: Kết quả nghiên cứu Trình bày và mô tả các biến, phân tích các kết quả từ mô hình hồi quy và đánh giá, nhận xét về mức độ tác động của từng nhân tố tới luồng vốn FDI. Chương 6: Kết luận và kiến nghị Trình bày ngắn gọn quan điểm của cá nhân, và đưa ra các kết luận quan trọng của bài nghiên cứu. Đồng thời, nêu lên một số hạn chế của đề tài cũng như đưa ra gợi ý nghiên cứu trong tương lai.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tham nhũng 2. Khái quát Tham nhũng là một thực trạng và vấn đề phức tạp, có nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau về tham nhũng, Tổ chức minh bạch Quốc tế (International Transparancy) đã đưa ra nhận định chung về tham nhũng như sau: “Tham nhũng là sự lạm dụng quyền lực để phục vụ cho mục đích tư lợi cá nhân". Đồng thời, họ cũng phân chia tham nhũng thành ba hình thức, đó là tham nhũng lớn, tham nhũng nhỏ và tham nhũng chính trị, tùy thuộc vào số tiền bị mất và lĩnh vực mà nó xảy ra.
Tham nhũng nhỏ ám chỉ đến việc lạm dụng vị trí, chức năng, quyền hạn được giao của các công chức, cơ quan công quyền cấp dưới trong quá trình làm việc, tiếp xúc với công chúng, những người thường sử dụng hàng hoá và dịch vụ tại các bệnh viện, trường học, sở cảnh sát hoặc các cơ quan khác. Tham nhũng lớn bao gồm các hành vi, hình thức thoả thuận với một bộ phận cấp cao của Chính phủ nhằm bóp méo các chính sách hoặc chức năng của nhà nước, tạo điều kiện cho các nhà lãnh đạo, hoặc các nhà quản lý được hưởng lợi từ nguồn tài chính đáng lẽ ra được sử dụng cho lợi ích công cộng. Tham nhũng chính trị là lạm dụng chức năng, quyền hạn được giao của các chính trị gia, các nhà hoạch định chính sách để duy trì quyền lực, địa vị và sự giàu có, bằng cách việc áp dụng các chính sách, nguyên tắc phân bổ nguồn lực và nguồn tài chính có lợi cho mình. Cách nhận biết tham nhũng Trên thế giới, một công cụ nhận biết tham nhũng được xây dựng bởi C.
Stephan, dựa trên 4 yếu tố chính: sự gia tăng độc quyền cộng với bưng bít thông tin, trong khi lại thiếu đi sự minh bạch và thiếu đạo đức. - Tham nhũng = Độc quyền + Bưng bít thông tin - Tính minh bạch – Đạo đức + Độc quyền: Một hệ thống (hay chính quyền) sở hữu phần lớn hoặc toàn bộ tài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 sản, và chi phối thị trường mà không thông qua quy luật thị trường. + Bưng bít thông tin: Nắm quyền chi phối thông tin, thậm chí định hướng và lừa dối dư luận. + Tính minh bạch: Minh bạch trong chính sách hành chính công, các chi phí công, và minh bạch trong đấu thầu dự án công.
+ Đạo đức: Năng lực và đạo đức của người tham gia vào bộ máy công quyền, hướng đến nhận biết điều đúng sai, và tiến tới làm điều đúng tránh điều sai. Các chỉ số đo lường tham nhũng Hiện nay có nhiều chỉ số đo lường tham nhũng được nhiều bài nghiên cứu sử dụng, nhưng có hai chỉ số đo lường tham nhũng tin cậy, được nhiều tác giả sử dụng: đó là chỉ số Cảm nhận tham nhũng (Corruption Perception Index-CPI) do Tổ chức minh bạch quốc tế công bố hàng năm; Chỉ số tự do không có tham nhũng (Freedom From Corruption) của Quỹ Di sản (Heritage Foundation). * Chỉ số cảm nhận tham nhũng (Corruption Perceptions Index - CPI) Chỉ số CPI do Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố hàng năm, ra đời năm 1995 được coi là một chỉ số tổng hợp đo lường cảm nhận về tham nhũng ở khu vực công tại nhiều quốc gia khác nhau. Các nguồn dữ liệu sử dụng để tính chỉ số CPI (bao gồm các khảo sát và nguồn thông tin) là các bảng câu hỏi được thiết kế và chuẩn hoá một cách kĩ lưỡng để đưa đến người khảo sát.
Chỉ số CPI thể hiện quan điểm của các bên liên quan, và kết quả CPI thường có mức độ tương đồng cao với các chỉ số khách quan khác. Phương pháp tính chỉ sổ CPI được dựa trên 4 yếu tố: (1) Chọn các nguồn dữ liệu: Mỗi nguồn dữ liệu được sử dụng để xây dựng chỉ số CPI phải đáp ứng đủ các tiêu chí khắt khe của Tổ chức minh bạch Quốc tế. HIện nay, Chỉ số CPI được tính bằng cách sử dụng 13 nguồn dữ liệu từ 12 tổ chức khác nhau. (2) Chuẩn hoá các nguồn dữ liệu với thang điểm từ 0–10, trong đó 0 thể hiện mức độ cảm nhận về tham nhũng cao nhất và 10 thể hiện mức độ cảm nhận về tham nhũng thấp nhất.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 (3) Tính toán điểm trung bình: Để một quốc gia hay vùng lãnh thổ được đưa vào chỉ số CPI, phải có ít nhất 3 nguồn dữ liệu có sẵn cho quốc gia/vùng lãnh thổ đó. Điểm CPI của một nước chính là điểm trung bình của tất cả các điểm số đã được chuẩn hoá cho nước đó. Điểm số CPI luôn là điểm đã được làm tròn. (4) Độ bất định của phép đo: Kết quả CPI của một nước/lãnh thổ luôn đi kèm với sai số chuẩn và khoảng tin cậy.
Hai thông số này thể hiện độ biến thiên trong điểm số các nguồn dữ liệu của quốc gia/lãnh thổ đó. * Chỉ số tự do không có tham nhũng (Freedom From Corruption - FFC) Chỉ số FFC là một yếu tố được sử dụng trong việc tính toán Chỉ số tự do kinh tế (Index of Economic Freedom) của Quỹ Di sản. Chỉ số FFC cơ bản được tính dựa trên chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Tổ chức minh bạch quốc tế nhưng được chuẩn hoá sang thang điểm từ 0 đến 100 bằng cách nhân số điểm CPI với 10. Ví dụ: nếu điểm dữ liệu CPI thô của quốc gia là 5.5, thì Chỉ số FFC sẽ là 55.
Đối với các quốc gia không được tính toán theo chỉ số CPI, chỉ số FFC được xác định bởi thông tin định tính từ các nguồn thông tin đáng tin cậy như: Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và Cơ quan Tình báo Kinh tế (The Economist Intelligence Unit). Đầu tư trực tiếp nước ngoài 2. Khái quát Trong báo cáo năm 1996, Tổ chức Thương mại Kinh tế Thế giới (WTO) đã đưa ra đánh giá về Đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư có trụ sở tại một quốc gia (quốc gia sở hữu) mua lại tài sản ở một quốc gia khác (quốc gia sở tại) với mục đích quản lý tài sản đó. Trong hầu hết các trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà họ quản lý ở nước ngoài đều thể hiện dưới dạng các công ty kinh doanh.
Trong những trường hợp như vậy, nhà đầu tư nước ngoài thường được gọi là "công ty mẹ", còn tài sản được gọi dưới tên "đơn vị liên kết" hoặc "công ty con". LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Có ba danh mục chính của vốn đầu tư nước ngoài: - Vốn chủ sở hữu là giá trị của khoản đầu tư của công ty nước ngoài vào cổ phiếu của một doanh nghiệp ở nước sở tại. Một tỉ lệ sở hữu 10% trở lên tính trên vốn chủ sở hữu hoặc tính trên quyền biểu quyết được coi là ngưỡng kiểm soát tài sản. - Thu nhập tái đầu tư là phần lợi nhuận của các công ty đa quốc gia không được phân phối dưới dạng cổ tức hoặc được chuyển lại cho công ty con.
Lợi nhuận giữ lại của các chi nhánh hoặc công ty con được giả định là tái đầu tư vào hoạt động của chính nơi đó. - Vốn khác đề cập đến việc vay và cho vay ngắn hạn hoặc dài hạn giữa công ty mẹ ở nước ngoài với chi nhánh hoặc công ty con. Lý thuyết hỗ trợ “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” Có nhiều lý thuyết cố gắng giải thích các yếu tố quyết định đến thu hút dòng vốn FDI. Trong đề tài nghiên cứu, tác giả áp dụng hai lý thuyết chính sau để giải thích: a.
Lý thuyết chiết trung của Dunning (1977) Nội dung chính của Lý thuyết chiết trung cho biết rằng, công ty nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư ở nước khác khi hội đủ cả ba lợi thế: lợi thế về sở hữu (Ownership-O), lợi thế về địa điểm (Location- L), lợi thế về nội bộ hóa (Internalization-I). - Lợi thế sở hữu được giải thích cho việc công ty đang sở hữu những ưu thế so với công ty khác như công nghệ, bằng phát minh sáng chế, thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm, kỹ năng quản lý. Lợi thế sở hữu là tiền đề cho hoạt động FDI. - Lợi thế địa điểm có được khi công ty đầu tư tiến hành đầu tư tại một địa điểm cụ thể.
Lợi thế địa điểm bắt nguồn từ vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên dồi dào, quy mô thị trường lớn, chi phí cho các yếu tố sản xuất thấp, môi trường kinh doanh thân thiện. Lợi thế địa điểm giải thích lý do tại sao một quốc gia lại hấp dẫn đầu tư hơn các nước khác hay tại sao một công ty lại chọn địa điểm này thay vì lựa chọn một địa điểm khác. Ngoài ra, các công ty nước ngoài không chỉ căn cứ vào vị trí địa lý, tài nguyên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 thiên nhiên mà còn căn cứ vào văn hóa, luật pháp, chính trị, thể chế, môi trường và cơ cấu thị trường của nước nhận đầu tư.