CHƯƠNG 1 TONG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC DAY 1. Cac khái niệm về ý định và hành vi 1.1 Ý định hành vi Ý định hành vi là khái niệm được nghiên cứu nhiều tại các lĩnh vực khác nhau như tâm lý học, triết học, xã hội học, trong cả luật pháp và giáo dục. Định nghĩa về ý định hành vi được đề cập từ những năm 1970. Định nghĩa ý định hành vi trong thập niên 1970 tập trung vào khái niệm về một mục tiêu cụ thể và động lực dé đạt được mục tiêu đó.
Y định hành vi được xem là một kế hoạch hoặc dự đoán của cá nhân về hành động cụ thé trong tương lai. Cụ thể, ý định hành vi là “dự đoán” về mức độ thực hiện hành vi được xác định bởi quan điểm và độ quan trọng của hành vi đó (Azjen, 1975) của người hành động về việc họ sẽ hành động nó trong tương lai (Gollwitzer & Bargh, 1976). Xét theo tạo động lực, ý định hành vi được cho là kết quả giữa quan điểm cá nhân về hành vi và đánh giá của họ về kết quả của hành động. Hoặc ý định hành vi được coi như mức độ một người có ý chí, dự định về hành động trong tương lai (Ajzen & Fishbein, 1977).
Đến những năm 1980, định nghĩa ý định hành vi đã có su mở rộng gồm cả kế hoạch cụ thé nhằm thực hiện hành động đó. Các nhà nghiên cứu cũng tập trung nghiên cứu về quá trình tư duy của cá nhân trong việc đưa ra quyết định và cam kết thực hiện hành động đó. Đầu những năm 1980, ý định hành vi được định nghĩa là khái niệm về hành động dự định thực hiện trong tương lai; là sự quyết tâm đề thực hiện hành động cụ thé (Gollwitzer, 1989). Theo (Gollwitzer, 1989) ý định hành vi là sự cam kết của ác nhân về thực hiện hành đồng và đi cùng với đó là kế hoạch.
Vào những năm 1990, ý định hành vi được định nghĩa và nghiên cứu tại nhiều lĩnh vực khác nhau từ kinh doanh, triết hoc, tâm lý học. Dinh nghĩa ý định hành vi trong thập niên này chủ yếu tập trung vào việc phân tích các yếu té tác động đến quyết định của cá nhân, bao gồm các yếu tô bên trong và bên ngoài của cá nhân. Theo (Gollwitzer, 1999), ý định hành vi là sự kết hợp của ba yếu tô cơ bản gồm nhận thức, động lực và sự lên kế hoạch. Các nghiên cứu cũng đã có sự quan tâm đến quá trình biến đổi của ý định hành vi từ giai đoạn suy nghĩ đến giai đoạn hành động.
Theo Ajzen & Fishbein (1991) đã định nghĩa ý định mua hàng là trạng thái của khách hàng về việc họ muốn mua một sản phẩm cụ thê. Trong thập niên 2000, khái niệm ý định hành vi được định nghĩa theo các tiêu chí về sự ôn định va động lực của nó. Cụ thể, ý định hanh vi được coi là một trạng thai tâm lý 6n định, mang tính định hướng và có thé dự đoán được, ảnh hưởng đến quyết định của người đó về hành vi tương lai. Ý định hành vi cũng được xem là kết quả của một quá trình động lực, bao gồm cả yếu tố nội tại (như niềm tin, giá trị và quan điểm cá nhân) và yếu tố bên ngoài (như tác động từ môi trường xã hội và quảng cáo).
Các tác giả tiêu biểu trong lĩnh vực này như Ajzen & Martin Fishbein đã phát triển mô hình lý thuyết hành vi dựa trên khái niệm ý định hành vi trong thập niên 2000. Theo mô hình này, ý định hành vi được định nghĩa là sự kết hợp giữa động lực và khả năng kiêm soát của người tham gia, được ảnh hưởng bởi các yếu tô như thái độ, quan điểm và kinh nghiệm. Theo Ajzen (2002), trong kinh doanh ý định hành vi là ý muốn nhằm thực hiện hành vi như mua hang hay sử dụng dich vụ. Y định hành vi là yếu tố quan trọng trong việc dự đoán hành vi và hướng phát triển cho tiếp thị.
Xét theo giáo dục, ý định hành vi liên quan tới kế hoạch nhằm thực hiện Bảng 1. 1: Dinh nghĩa ý định hành vi Năm | Tac giả Định nghĩa 1975 | Azjen Y định hành vi là một du đoán về mức độ người ta sẽ thực hiện một hành vi cụ thé, được xác định bởi những quan điểm của họ về hành vi đó và độ quan trọng của nó 1975 | Fishbein định ý hành vi là một kết quả của sự kết hợp giữa quan điểm của & Ajzen | cá nhân về hành vi và đánh giá của họ về việc hành động đó sẽ mang lại kết quả gì 1976 | Gollwitzer | Ý định và hiệu quả của hành động, ý định hành vi được định nghĩa & Bargh | là một dự đoán của người hành động về việc họ sẽ thực hiện một hành động nhất định trong tương lai. 1977 | AJzen & Về hành vi tiêu dùng, ý định hành vi được định nghĩa là mức độ Fishbein | mà một người có ý chí hoặc dự định dé thực hiện một hành động cụ thé. 1989 | Gollwitzer | Ý định hành vi là sự cam kết của cá nhân đối với một hành động cụ thể, bao gồm cả kế hoạch đề thực hiện hành động đó.
1991 | Ajzen & | Kinh doanh: Ý định mua hàng là trạng thái tâm lý của người tiêu Fishbein | dùng, trong đó họ muốn mua sản pham hoặc dich vu cu thé. 1992 | Mele Y định là một trang thái tâm ly trong đó một con người quyết định thực hiện một hành động nào đó. 1999 | Gollwitzer | Ý định hành vi là một kết hợp của ba yếu t6 cơ bản: nhận thức của mục tiêu, động lực đê đạt được mục tiêu đó, và sự kê hoạch hóa các hành động đề đạt được mục tiêu. 2002 | Ajzen Trong kinh doanh, ý định hành vi được định nghĩa là ý muôn của khách hàng hoặc người tiêu dùng đề thực hiện một hành động cụ thể như mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ.
2006 | Gollwitzer | Trong tâm ly học, ý định hành vi được định nghĩa là trang thái & Sheeran | tâm ly biểu thi một mục dich hoặc một kế hoạch hành động. 2009 | Pink Trong giáo dục, ý định hành vi được định nghĩa là một kế hoạch cụ thê và rõ rang dé thực hiện một hành động hoặc mục tiêu học tập. 2010 | Fishbein Trong tâm lý học học thuật, ý định hành vi được định nghĩa là & Ajzen trạng thái tâm lý biểu thị sự quyết tâm đề thực hiện một hành động cụ thé. Nó được coi là một yếu tố quan trọng trong việc giải thích sự chuyên đổi từ ý định thành hành động.
Nguồn: Tác giả tổng hợp 1. Ý định đầu tư bất động sản Ý định được cho là năm bắt các yếu tố động lực ảnh hưởng đến một hành vi và chỉ ra mức độ khó khăn của mọi người sẵn sàng cố gắng và chỉ ra mức độ khó khăn của mọi người sẵn sảng cô găng hoặc họ sẽ né lực như thế nao dé thực hiện hành vi (Ajzen, 1991). Theo lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), mọi người hành động theo ý định va nhận thức của họ về một hành vi cụ thể. Fishbein & Ajzen định nghĩa ý định là “nhận thức của cá nhân đối với xác suất đề thực hiện hành vi (1975).
Ý định của cá nhân được xem như “một chức năng của yếu tổ mang tính cá nhân và yếu tố phản ánh ảnh hưởng của xã hội (AJzen & Fishbein, 1980). Hay nói cách khác, ý định là một dấu hiệu cho thay sự sẵn sàng và quyết tâm đề thực hiện hành vi cụ thé và nó là tiền đề cho hành vi được thực hiện. Do vậy, ý định đầu tư của cá nhân là nhận thức của cá nhân đề thực hiện hành vi đầu tư. Xét theo mục đích có thể chia ý định đầu tư thành hai loại là ngắn hạn và dài hạn.
Cụ thể, “ý định đầu tư ngắn hạn là đề cập đến một cá nhân có thời gian đầu tư ngắn dé đáp ứng nhu cầu có thé sớm phát sinh còn ý định đầu tư dài hạn dé cập đến một cá nhân có thời gian đầu tư dài hạn dé đầu tư đáp ứng nhu cầu có thé phát sinh trong tương lai xa”. Như một nguyên tắc chung, ý định tham gia vào một hành vi càng mạnh thì càng nhiều khả năng hành vi đó được thực hiện. Do đó, ý định có thể được hiểu là một yếu tố dự đoán hành vi. Quá trình ra quyết định rất phức tạp và hiệu quả của việc ra quyết định phụ thuộc vào sự ồn định cảm xúc của nhà đầu tư (Talha, Ali, & Waheed, 2012).
Bản chất của quyết định của nhà đầu tư không giống nhau và nó phụ thuộc vào thái độ cá nhân và các đặc diém chia sẻ. Trong những năm gan đây, các nghiên cứu vê tài chính hành vi đã mô tả rằng việc ra quyết định tài chính của các nhà đầu tư phụ thuộc vào các yêu tố hành vi bên ngoài và bên trong (Baghdadabad & cộng sự, 2011; Shefrm, 2002). Hành vi của nhà đầu tư được coi là thủ tục thị trường tài chính phức tạp và nó vẫn là trọng tâm của các nghiên cứu hiện tại và trước đây về thị trường vốn (Iqbal & cộng sự, 2013). Hành vi của các nhà đầu tư đã được nghiên cứu từ quan điểm của các nhà đầu tư tô chức, cũng như các nhà đầu tư cá nhân, và cũng từ quan điểm của các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài.
Đối tượng chính của các nhà đầu tư đầu tư thường là đánh giá vốn hoặc thu nhập hiện tại hoặc số dư đánh giá vốn (Sultana, 2010). Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung đánh giá ý định đầu từ của nhà đầu tư bat động sản. Định nghĩa về ý định đầu tư bat động sản có những điểm cụ thể và khác biệt so với định nghĩa ý định đầu tư đã trình bày trước đó. Vào đầu những năm 1990, các nghiên cứu định nghĩa về ý định đầu tư bất động sản tập trung vào khía cạnh tâm lý học và cảm xúc của người đầu tư.
Ví dụ, nghiên cứu của Chen (1996) định nghĩa ý định đầu tư bất động sản là ý muốn hoặc kế hoạch của nhà đầu tư để đầu tư vào bất động sản trong tương lai. Trong nghiên cứu của Liang & Huang (1998), định nghĩa ý định đầu tư bất động sản được mô tả là dự định của người đầu tư về việc chỉ tiêu tiền của họ cho mua bắt động sản trong tương lai.