Chương 1. Trong chương này tác giả giới thiệu lý do tại sao chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi, phương pháp nghiên cứu để làm cơ sở cho các chương sau. Tác giả đã trình bày các khái niệm về TCVM, tín dụng vi mô, nghèo đói. Mặt khác, tác giả đã trình bày kinh nghiệm về sự thành công của các tổ chức TCVM trên thế giới và đưa ra bài học kinh nghiệm cho các tổ chức TCVM ở Việt Nam.
Trong chương này tác giả trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu và mô tả dữ liệu làm cơ sở phục vụ cho nghiên cứu. Tác giả thống kê, mô tả thực trạng hoạt động của các tổ chức TCVM bán chính thực tại tỉnh Long An. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả tính toán, kiểm định mô hình và đưa ra các kết quả nghiên cứu cụ thể. Từ những kết quả đạt được, tác giả đưa ra các kiến nghị đối với các tổ chức TCVM bán chính thức và các cơ quan quản lý nhà nước để giúp các tổ chức TCVM hoạt động có hiệu quả hơn trong thời gian tới.
Ngoài ra, tác giả đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về tài chính vi mô 2.
Khái niệm về tài chính vi mô Theo quan điểm của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB): “Tài chính vi mô là việc cung cấp một phạm vi rộng các dịch vụ tài chính như tiền gửi, tài khoản tiết kiệm, thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền cho người nghèo hoặc các hộ gia đình có thu nhập thấp, cho những hoạt động kinh doanh cá thể hoặc doanh nghiệp rất nhỏ” 2. Sự ra đời của tài chính vi mô Lần đầu tiên, người ta biết đến TCVM là vào những năm đầu thế kỷ thứ 171, do sáng kiến của Jonathan Swift, người Ailen. Đến thế kỷ 19, các hình thức cung cấp TCVM dưới dạng bán chính thức mới ra đời do F. Raiffeisen, một người Đức thiết kế và áp dụng từ những năm 1860 cho lĩnh vực nông nghiệp.
Mô hình của F. Raiffeisen được phát triển không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp mà còn được nhân rộng trong cộng đồng của xã hội, ngay cả trong khu vực thành thị. Cách thức tổ chức thành các nhóm tiết kiệm, vay vốn giúp cho nhiều người nghèo, đối tượng kinh doanh nhỏ trong khu vực thành thị, được đáp ứng nhu cầu về vốn và các nguồn lực thiếu hụt khác, nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, tạo nguồn thu nhập ổn định. Vào năm 1976, khi ông Muhammad Yunus thành lập nên Ngân hàng Grameen, như là một thử nghiệm, ở vùng ngoại ô của Bangladesh.
Kể từ đó, một vài tổ chức TCVM đã ra đời và đạt được thành công khi đến gần với những người nghèo trong xã hội. Tuy nhiên, phải đến khi Ủy ban Nobel trao cho Grameen Bank và người sáng lập Muhammad Yunus Giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 2006 “Vì những nỗ lực của họ trong việc tạo ra sự phát triển kinh tế và xã hội”, TCVM mới thực sự thu hút được sự chú ý của thế giới và niềm tin vào khả năng chống lại đói nghèo. 1 HOLLIS, A and SWEETMAN, A (1997) Complementarity, Competition and Institutional Development: The Irish Loan Funds through Three Centuries, University of Calgary and University of Victoria LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Tại Việt Nam, năm 1986 Chính phủ Việt Nam quyết định thực hiện chính sách quốc gia về xoá đói giảm nghèo thông qua việc thúc đẩy các hoạt động sản xuất của người nghèo. Bên cạnh đó, với sự hỗ trợ của các tổ chức Phi Chính phủ (NGOs) quốc tế; các chương trình hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) song phương và đa phương; các cơ quan đoàn thể và chính quyền địa phương, các chương trình TCVM đã được hình thành với mục đích giảm nghèo cho phụ nữ, trẻ em… 2.
Đối tượng của tài chính vi mô Theo định nghĩa, thì đối tượng của TCVM là những người nghèo, song không phải là những người nghèo nhất trong xã hội. Họ là những người có thu nhập thấp nhưng có việc làm cụ thể, họ có nhu cầu về vốn vay để mở rộng thêm hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng thêm thu nhập cho gia đình. Ngoài ra, phụ nữ cũng là đối tượng chính của TCVM, vì phụ nữ là người chăm sóc gia đình, họ thường đặt nhu cầu của gia đình lên trên nhu cầu của bản thân, giúp họ phát triển kinh tế gia đình là cách hiệu quả nhất. Đồng thời phụ nữ chiếm tỷ lệ thất nghiệp cao hơn nam giới ở hầu hết các quốc gia.
Việc cấp vốn cho phụ nữ đã mang lại hiệu quả cao và giúp nâng cao vị thế của người phụ nữ trong xã hội. Đặc điểm của tài chính vi mô TCVM cho vay lãi suất cao bởi vì việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho người nghèo rất tốn kém. Các món vay dù nhỏ thì đòi hỏi cũng cần chi phí cho việc khảo sát, phỏng vấn hộ gia đình hoặc chi phí cho việc đi thu nợ, thu lãi… Vì thế, chi phí giao dịch so với tổng tiền vay của các khoản vay nhỏ thường cao. Mặt khác, phần lớn tín dụng vi mô hoạt động chủ yếu ở khu vực nông thôn, thường mật độ dân cư phân tán, đường sá, dịch vụ viễn thông, giáo dục, y tế có chất lượng thấp.
Đây cũng chính là lý do mà các Ngân hàng thương mại không thực hiện cho vay các khoản vay nhỏ. Trách nhiệm liên đới áp dụng giữa những người vay. Việc quản lý cả nhóm người đi vay đảm bảo khả năng thu hồi vốn vay tốt hơn do áp lực bị trừng phạt của những người trong nhóm đối với người vay không tuân thủ theo hợp đồng. Phương pháp này rất thành công ở các quốc gia khác nhau khi áp dụng mô hình của ngân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hàng Grameen.
Ở Việt Nam thì có NHCSXH, quỹ TYM, quỹ CEP, tuy nhiên mỗi tổ chức ứng dụng vào thực tế là khác nhau. Việc thanh toán đầy đủ một khoản vay sẽ tạo cơ hội tốt cho lần vay tiếp theo. Cho vay tuần hoàn giúp việc quản lý tài chính có sự chặt chẽ, tạo động lực cho khách hàng tuân thủ các điều khoản trong hợp đồng vay. Vai trò của tài chính vi mô Giải pháp thoát nghèo ở Việt Nam: Đa số người nghèo ở Việt Nam sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp với năng suất lao động thấp và ít được tiếp cận với các dịch vụ tài chính và kiến thức.
TCVM có khả năng cung cấp các loại hình dịch vụ và sản phẩm tài chính cho cộng đồng người nghèo nhằm giúp họ cải thiện đời sống, phát triển kinh tế và đóng góp cho xã hội. Mặc dù vốn vay của TCVM không lớn như ngân hàng thương mại hay ngân hàng chính sách xã hội nhưng lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi những khoản vay này đến được với người nghèo và nghèo nhất vào đúng thời điểm cần thiết nhất, giúp họ khởi tạo sản xuất kinh doanh, tạo dựng tài sản, ổn định chi tiêu và bảo vệ họ khỏi nghèo đói mặc dù việc này cần thời gian dài. Tăng thu nhập hộ gia đình: TCVM cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng như: cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm… giúp người nghèo tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, đa dạng các khoản thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp, các khoản thu nhập khác từ tiểu thủ công nghiệp, thương mại, kinh doanh nhỏ. Đồng thời, góp phần giúp người nghèo tránh, giảm rủi ro về kinh tế và cuộc sống.
Tăng quyền cho phụ nữ: Trong rất nhiều chương trình TCVM, phụ nữ nghèo, thu nhập thấp là đối tượng khách hàng tuyệt vời, chủ yếu của các sản phẩm tài chính. Bởi vì, phụ nữ là những người tiết kiệm tích cực và có tỷ lệ hoàn trả các khoản vay cao hơn đàn ông. Đồng thời, trong các hộ gia đình nghèo phần lớn phụ nữ là trụ cột kiếm tiền để nuôi sống gia đình. Tuy nhiên, phụ nữ cũng chính là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi và dễ bị tổn thương ngay tại gia đình mình.Tham gia chương trình của tổ chức TCVM, phụ nữ sẽ được quản lý tiền, tiếp cận với tri thức dẫn tới có nhiều lựa chọn hơn có thể khiến họ có quyền nhiều hơn trong các vấn đề LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 của gia đình và xã hội, họ và chồng cùng nhau ra quyết định trong những khía cạnh quan trọng của đời sống.
Bằng cách này hay cách khác họ đang đóng góp đáng kể vào tài chính gia đình và thực tế này giúp họ giành thêm sự tôn trọng từ phía chồng con, có thể thương lượng với chồng giúp đỡ việc nhà, tránh cãi vã về tiền bạc và người phụ nữ trong gia đình sẽ được coi trọng hơn. Tổng quan về tín dụng vi mô 2. Khái niệm tín dụng vi mô Theo Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về tín dụng vi mô tại Washington tháng 2 năm 1997: “Tín dụng vi mô là việc cung cấp các khoản vay quy mô nhỏ đến đối tượng người nghèo, với mục đích giúp những người thụ hưởng thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh để tạo lợi nhuận từ đó nâng cao chất lượng đời sống cho cả người vay vốn và gia đình của họ” 2. Tín dụng đối với người nghèo Tín dụng đối với người nghèo là các khoản tín dụng chỉ dành riêng cho những người nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi; tùy theo từng nguồn có thể hưởng theo lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo mau chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hòa nhập cùng cộng đồng.
Vai trò của tín dụng đối với người nghèo Là động lực giúp người nghèo vượt qua nghèo đói: trong thực tế ở nông thôn Việt Nam bản chất của người nông dân là cần cù, nhưng nghèo đói là do một phần là không có vốn để sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, vốn đối với họ là điều kiện tiên quyết, là động lực đầu tiên giúp họ vượt qua khó khăn để thoát khỏi đói nghèo. Khi có vốn thì người nông dân có điều kiện mua sắm vật tư, cây giống, con giống.để sản xuất tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống. Giúp người nghèo nâng cao kiến thức tiếp cận với thị trường, có điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.