Chương 1: “Tổng quan nghiên cứu đề tài” Nêu tính cấp thiết nghiên cứu đề tài, xác lập và tuyên bố vấn đề, các mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu các vấn đề. Chương 2: “Một số lí luận cơ bản về ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu” Nêu một số định nghĩa, khái niệm, lí thuyết về suy thoái kinh tế thế giới, các lí thuyết về nhập khẩu và tác động của suy thoái đến hoạt động nhập khẩu. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước, phân định nội dung vấn đề nghiên cứu. Chương 3: “Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích tác động của suy thoái kinh tế thế giới đến hoạt động nhập khẩu vật liệu xây dựng tại công ty CP SX DV XNK Từ Liêm” Nêu phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề, đánh giá tổng quan tình hình và tác động của suy thoái đến hoạt động xuất khẩu của công ty.
Kết quả điêu tra trắc nghiệm và tổng hợp đánh giá của các chuyên gia. Kết quả phân tích các dữ liệu thứ cấp. Chương 4: “Các phát hiện nghiên cứu và đề xuất giải pháp đẩy mạnh nhập khẩu hàng vật liệu xây dựng trong thời gian tới của công ty CP SX DV XNK Từ Liêm” Các phát hiện qua nghiên cứu, dự báo triển vọng và quan điểm khắc phục, phương hướng trong thời gian tới để từ đó đưa ra đề xuất giải pháp, kiến nghị để đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu trong và sau suy thoái kinh tế thế giới. Phạm Thị Loan Phượng 4 Lớp K42E6 Luan van Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ SUY THOÁI KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU 2.
Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về suy thoái kinh tế - Khái niệm suy thoái kinh tế (Economic Downturn) Trong kinh tế học vĩ mô: “Suy thoái kinh tế là sự suy giảm sản lượng GDP của một Quốc gia, hoặc tăng trưởng âm, trong vòng từ hai quí liên tiếp trở lên trong một năm.”1 Theo quan điểm của NBER2 suy thoái kinh tế được định nghĩa “là sự sụt giảm hoạt động kinh tế trong cả nước, kéo dài nhiều tháng.” Như vậy suy thoái kinh tế có thể bao gồm những suy giảm ngẫu nhiên trong các thước đo của hoạt động kinh tế nói chung như tỷ lệ thất nghiệp, đầu tư, và lợi nhuận của doanh nghiệp. Suy thoái kinh tế cũng có thể liên quan với giảm phát hoặc lạm phát trầm trọng. - Suy thoái kinh tế toàn cầu (Global Economic Downturn) Có thể hiểu rằng suy thoái kinh tế toàn cầu là sự suy giảm sản lượng GDP của toàn thế giới, hoặc tăng trưởng âm, trong vòng từ hai quí liên tiếp trở lên trong một năm.
Hay nói cách khác, suy thoái kinh tế toàn cầu là sự suy giảm mức độ tăng trưởng của nhiều quốc gia trong hai quí liên tiếp. Đồng thời khiến cho tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát…gia tăng trên toàn thế giới. Khái niệm về nhập khẩu Nhập khẩu là hoạt động của Thương mại quốc tế, đó là hàng hóa và dịch vụ sản xuất ở nước ngoài được tiêu thụ ở trong nước. Nhập khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác.
Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước. Tuy nhiên, theo cách thức biên soạn cán cân thanh toán quốc tế của IMF, chỉ có việc mua các hàng hóa hữu 1 http://vi.org/wiki/Suy_tho%C3%A1i_kinh_t%E1%BA%BF 2 Cơ quan nghiên cứu kinh tế Hoa Kì Phạm Thị Loan Phượng 5 Lớp K42E6 Luan van Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế hình mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại. Còn việc mua dịch vụ được tính vào mục cán cân phi thương mại. Theo điều 28, mục 2, chương 2, Luật Thương mại 2005 định nghĩa: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Theo quan điểm của các nhà kinh doanh quốc tế: Nhập khẩu hàng hóa là việc mua hàng hóa của quốc gia này từ quốc gia khác trên cơ sở thanh toán bằng tiền tệ.
Hàng hóa được vận chuyển qua biên giới quốc gia, tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai quốc gia. Một số lí thuyết của vấn đề nghiên cứu 2. Các lí luận về suy thoái kinh tế 2. Lí thuyết về chu kì phát triển kinh tế Chu kì kinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động GDP thực tế theo trình tự bap ha lần lượt là: Suy thoái, Phục hồi và Hưng thịnh (bùng nổ).
Cũng có quan điểm coi pha phục hồi là thứ yếu nên chu kì kinh doanh chỉ gồm hai pha chính là Suy thoái và Hưng thịnh. Chu kì phát triển kinh tế3 3 http://vi.org/wiki/ Phạm Thị Loan Phượng 6 Lớp K42E6 Luan van Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế Suy thoái là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái. Phục hồi là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái.
Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ kinh tế. Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh (hay còn gọi là pha bùng nổ). Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới. Điểm ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế.
Thông thường, người ta chỉ nhận ra hai điểm đáy và đỉnh của chu kỳ kinh tế khi nền kinh tế đã sang pha tiếp sau điểm ngoặt với dấu hiệu là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế đổi chiều giữa mức âm và mức dương. Trong thực tế, các nhà kinh tế học cố tìm cách nhận biết dấu hiệu của suy thoái vì nó tác động tiêu cực đến mọi mặt kinh tế, xã hội. Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là: - Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là GDP thực tế giảm sút.
- Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảm xuống tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. - Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi nguyên nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái. - Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường giảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh.
Cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái. Còn khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu hiệu trên biến thiên theo chiều ngược lại. Trước đây, một chu kỳ kinh doanh thường được cho là có bốn pha lần lượt là suy thoái, khủng hoảng, phục hồi và hưng thịnh. Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, khủng hoảng theo nghĩa kinh tế tiêu điều, thất nghiệp tràn lan, các nhà máy đóng cửa hàng loạt, v.v… không xảy ra nữa.
Vì thế, toàn bộ giai đoạn GDP giảm đi, tức là giai Phạm Thị Loan Phượng 7 Lớp K42E6 Luan van Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế đoạn nền kinh tế thu hẹp lại, được gọi duy nhất là suy thoái. Ở Việt Nam cho đến đầu thập niên 1990, trong một số sách về kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa, khi nói về chu kỳ kinh tế thường gọi tên bốn pha này là khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh. Lược sử một số cuộc khủng hoảng kinh tế từ 1929 – 2009 Trong lịch sử thế giới hiện đại đã diễn ra rất nhiều cuộc khủng hoảng với quy mô, mức độ và tính chất khác nhau. Tuy nhiên những cuộc khủng hoảng này đã nổ ra trên mọi lĩnh vực kinh tế từ sản xuất đến tiêu dùng, từ năng lượng, nguyên liệu đến tiền tệ, tài chính…và tác động đến hầu hết các mặt của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội… Điển hình nhất trong số đó là ba cuộc khủng hoảng mang tính chất toàn cầu và ảnh hưởng nghiêm trọng nhất năm 1930, 1973 và gần đây là cuộc khủng hoảng năm 2008.
Đầu tiên, là Đại suy thoái 1930. Cuộc Đại suy thoái hay Đại khủng hoảng này diễn ra đã gần 8 thập kỉ nhưng vẫn ghi dấu ấn là giai đoạn suy sụp kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử hiện đại. Bắt đầu từ tháng 10 năm 1929 ở Mỹ, sau đó nhanh chóng lan rộng sang châu Âu và hầu khắp các nước trên thế giới. Kết thúc vào thời điểm chuyển giao giữa hai thập niên 30 và 40, cuộc suy thoái đã có ảnh hưởng hủy diệt với kinh tế toàn cầu, cả các nước phát triển và đang phát triển.
Mọi khía cạnh của nền kinh tế từ sản xuất, tiêu dùng, thương mại, thu nhập cá nhân, thị trường lao động, lạm phát… đều chịu ảnh hưởng xấu. Các nước phụ thuộc nhiều vào công nghiệp và thương mại chịu tác động sâu sắc nhất. Đến tháng 3 năm 1933 cuộc khủng hoảng đã đạt đến điểm tận cùng của nó và sau đó dần kết thúc. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới thứ hai là cuộc khủng hoảng dầu mỏ 1973.
Khủng hoảng dầu mỏ là hậu quả của việc các thành viên OAPEC, gồm tổ chức xuất khẩu dầu mỏ OPEC và hai nước Ai Cập và Syria, thực hiện cấm vận dầu mỏ với Mỹ và các quốc gia ủng hộ Isael trong cuộc chiến với Ai Cập và Syria. Trong cuộc khủng hoảng lần này vấn đề chính là khủng hoảng năng lượng và lương thực, thực phẩm. Việc bùng nổ giá cả diễn ra do nguồn cung hạn chế trong khi nhu cầu tăng cao, dự trữ thấp và đặc biệt là sự gia tăng hoạt động của giới đầu cơ quốc tế. Khủng hoảng hàng hóa đã khiến tình trạng bất ổn xã hội xảy ra ở nhiều quốc gia, đe dọa nghiêm trọng tới an ninh chính trị.