chương 1 Trong chương này, tác giả đã trình bày khái quát các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài dự toán ngân sách. Thông qua đó, tác giả sẽ xác định khe hổng nghiên cứu và lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình, cũng như làm căn cứ đánh giá kết quả nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2. Dự toán ngân sách Dự toán ngân sách là một kế hoạch chi tiết, được thể hiện bằng các thuật ngữ định lượng, nó xác định cách mà nguồn lực sẽ được mua và sử dụng bởi doanh nghiệp trong một khoảng thời gian cụ thể (Hilton, 1991).
Nó không chỉ là một kế hoạch tài chính, đưa ra các mục tiêu chi phí và doanh thu cho các bộ phận trong một công ty kinh doanh, mà còn là một công cụ để kiểm soát, điều phối, truyền đạt, đánh giá hiệu suất và động lực trong doanh nghiệp (Kenis, 1979). Dự toán ngân sách giúp cải thiện hiệu quả thông qua việc lập kế hoạch, phối hợp và hỗ trợ kiểm soát, nghiên cứu (King, Clarkson, & Wallace, 2010). Còn theo Horngren và cộng sự (2012), dự toán ngân sách là sự thể hiện thông qua những con số về kế hoạch hành động của các nhà quản trị trong một khoảng thời gian cụ thể và sự phối hợp cùng nhau thực hiện những công việc cần thiết để hoàn thành kế hoạch đã đặt ra. Dự toán ngân sách cũng là một trong những công cụ quan trọng nhất trong hệ thống kiểm soát quản lý (Armstrong và cộng sự, 1996).
Dự toán ngân sách là việc cụ thể hóa kế hoạch chiến lược trong từng kỳ hoạt động trong ngắn hạn. Dự toán ngân sách buộc các nhà quản trị phải hoạch định để xử lý trước các vấn đề có thể xảy ra, giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn các hoạt động của mình, vì dự toán đã truyền đạt những thông tin yêu cầu người lao động ở toàn bộ các cấp thực hiện những mục tiêu đã đề ra. Theo góc nhìn về sự kiểm soát, dự toán cũng giúp cho các nhà quản trị giải thích khoản chênh lệch giữa thực tế so với dự toán, khuyến khích các nhà quản trị các cấp và nhân viên trong doanh nghiệp cố gắng để thực hiện các chỉ tiêu dự toán đã đề ra. Mục đích chủ yếu của dự toán ngân sách là hỗ trợ nhà quản trị trong việc hoạch định và kiểm soát các hoạt động.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Hoạch định: dự toán ngân sách buộc nhà quản trị phải dự tính trong tương lai chuyện gì sẽ xảy ra. Nó đòi hỏi các nhà quản trị luôn phải suy nghĩ về những sẽ xảy ra trong tương lai. Nếu những việc sắp xảy ra dẫn đến kết quả không tốt, các nhà quản trị phải đề xuất được cần phải làm gì để thay đổi kết quả không mong muốn đó. Kiểm soát: nhà quản trị kiểm soát các hoạt động bằng cách so sánh giữa dự toán và kết quả thực tế sau đó đánh giá kết quả đó.
Vì vậy, nếu không có dự toán thì kết quả đạt được sẽ không có cơ sở để so sánh, đánh giá. Hai chức năng trên luôn đi liền với nhau và kết quả hoạt động thực tế luôn được so sánh với dự toán ngân sách. Nếu doanh nghiệp không thực hiện việc kiểm soát thì dự toán ngân sách sẽ không phát huy hết tác dụng vốn có của nó. Sự tham gia vào dự toán ngân sách Sự tham gia vào dự toán ngân sách được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau bởi nhiều nhà nghiên cứu.
Brownell (1982) cho rằng sự tham gia vào dự toán ngân sách là mức độ mà cấp dưới có ảnh hưởng và tham gia vào việc thiết lập ngân sách. Shields và Shields (1998) cũng cho rằng việc tham gia vào ngân sách là mức độ tham gia và ảnh hưởng của người quản lý đối với việc xác định ngân sách của mình. Cũng giống như J. Shields và Shields (1998), Kenis (1979) cho rằng sự tham gia của các nhà quản trị vào ngân sách về cơ bản phản ánh khả năng tham gia của các nhà quản trị vào việc xây dựng ngân sách của họ và mức độ ảnh hưởng của họ đến các mục tiêu ngân sách của họ.
Có rất nhiều đề tài nghiên cứu kế toán quản trị gần đây theo trường phát thực chứng trên thế giới đã sử dụng biến sự tham gia vào dự toán ngân sách trong mô hình và hầu hết các nghiên cứu này đều theo định nghĩa về sự tham gia vào dự toán ngân sách mà Brownell (1982) đưa ra, ví dụ như Nouri và Parker (1998), Chong và Chong (2002) và Rosman, Shafie, Sanusi, Johari, và Omar (2016). Vì vậy, trong luận văn này, tác giả cũng kế thừa và sử dụng khái niệm về sự tham gia vào dự toán ngân sách theo định nghĩa của Brownell (1982), đó là mức độ mà các nhà quản trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 cấp dưới có thể ảnh hưởng và tham gia vào việc thiết lập dự toán ngân sách trong doanh nghiệp. Sự cam kết với mục tiêu dự toán Sự cam kết với mục tiêu dự toán được sử dụng trong nghiên cứu này là sự quyết tâm thực hiện một mục tiêu ngân sách và sự kiên trì theo đuổi mục tiêu theo thời gian. Khái niệm này đã được Locke, Shaw, Saari, và Latham (1981) định nghĩa như vậy trong nghiên cứu của họ.
Chính sự cam kết này đã tạo nên sự quyết tâm và kiên trì theo đuổi mục tiêu dự toán ngân sách cho người lao động, từ đó cũng tạo động lực làm việc, giúp họ gắn bó với công việc tại tổ chức lâu hơn. Đây cũng là khái niệm về sự cam kết mục tiêu dự toán được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu khác về dự toán ngân sách của các tác giả từ trước đến nay. Đơn cử như trong bài nghiên cứu của các tác giả như Chong và Chong (2002), Maiga (2005), và Maiga và Jacobs (2007) cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác. Kiến thức về quản trị chi phí Theo Leonard và Sensiper (1998), kiến thức được định nghĩa là những thông tin có liên quan, những kinh nghiệm đã trải qua và có thể sử dụng để thực hiện được các hành động.
Tương tự như vậy Davenport và Prusak (1998) cũng cho rằng kiến thức bao gồm những thông tin tổng quát, kinh nghiệm trong lĩnh vực chuyên môn, những giá trị và sự thành thạo chuyên sâu. Trong nghiên cứu của Isik, Arditi, Dikmen, và Birgonul (2009), các tác giả cho rằng, quản trị chi phí là tập hợp các hoạt động, bảo đảm rằng với mức chi phí thấp nhất thì tổng thể dự án vẫn có thể đạt được, phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Cụ thể hơn, quản trị chi phí là các quá trình liên quan đến việc ước tính, lập ngân sách và kiểm soát chi phí để dự toán có thể được hoàn thành mà không bị vượt ngân sách (PMI, 2013). Quản trị chi phí không chỉ có mục tiêu đơn thuần là tập trung làm giảm chi phí mà nó còn tập trung vào việc kiểm soát và quản lý chi phí (Hoque, 2002).
Đồng thời, Hoque cũng cho rằng, quản trị chi phí đòi hỏi một sự hiểu biết sâu hơn về cấu trúc chi phí của doanh nghiệp. Nó là sự kết hợp các yếu tố của ba LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 lĩnh vực: kế toán quản lý; sản xuất; và hoạch định chiến lược. Quản trị chi phí không chỉ được sử dụng trong các kế hoạch ngắn hạn mà nó còn được sử dụng trong các kế hoạch dài hạn và kiểm soát chi phí. Shields và Young (1994) cũng đưa ra 3 phong cách quản trị chi phí của các nhà quản trị trong mảng nghiên cứu và phát triển (R&D), đó là: xem chi tiết từng đơn hàng, quản trị chi phí dựa trên khách hàng và quản trị chi phí dựa trên quan điểm cân bằng.
Như vậy, có thể thấy kiến thức về quản trị chi phí của một cá nhân là những thông tin liên quan đến lĩnh vực quản trị chi phí, kinh nghiệm, có một sự hiểu biết nhất định về quản trị chi phí của một cá nhân và những điều này giúp cho cá nhân đó có thể thực hiện tốt việc quản trị chi phí. Đồng thời, kiến thức về quản trị chi phí được xem là một yếu tố đại diện cho năng lực của nhà quản trị, bởi vì nó là một thuộc tính của cá nhân nhà quản trị, có chức năng hỗ trợ trong quá trình tham gia xây dựng dự toán ngân sách (Agbejule & Saarikoski, 2006). Kết quả công việc Theo Allen, Shore, và Griffeth (2003), kết quả công việc (job performance) được định nghĩa là tổng thể các đánh giá về mức độ mà người lao động đạt được kỳ vọng của một tổ chức đặt ra. Jamal (2007) cũng xem kết quả công việc như một chức năng mà một cá nhân có thể đạt được thành công với các nguồn lực sẵn có và thông qua các điều kiện bình thường.
Bên cạnh đó, Harrison, Newman, và Roth (2006) thì cho rằng kết quả công việc như một tập hợp các hành vi mà một người kiểm soát và tác động đến mục tiêu của tổ chức. Ngoài ra, Mahoney, Jerdee, và Carroll (1965) cụ thể hơn, họ đã đưa ra tám khía cạnh để đánh giá kết quả công việc đó là lập kế hoạch, điều tra, điều phối, đánh giá, giám sát, nhân sự, đàm phán và đại diện. Kế thừa định nghĩa này của Mahoney và cộng sự, Brownell (1983), M. Shields và Young (1994), Adler và Reid (2008) tiếp tục sử dụng 8 khía cạnh để đo lường kết quả công việc trong các nghiên cứu định lượng trong mảng kế toán quản trị.
Đây cũng là cơ sở để tác giả vận dụng thang đo về kết quả công việc trong bài luận văn này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lý thuyết nền tảng Bài nghiên cứu dựa trên các lý thuyết nền tảng để lập luận và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu cũng như mô hình nghiên cứu, nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu và thực hiện các mục tiêu nghiên cứu. Trong đề tài này, tác giả sử dụng bốn lý thuyết nền tảng: lý thuyết kỳ vọng (Expectancy theory), lý thuyết tâm lý (Psychological theory), lý thuyết thiết lập mục tiêu (Goal – setting theory), và lý thuyết hiệu suất công việc (Theory of work performance).
Lý thuyết kỳ vọng (Expectancy theory) Lý thuyết kỳ vọng tập trung giải thích mối quan hệ giữa động lực và kết quả công việc.