CHƯƠNG 1. LÝ THUYẾT VỀ QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ. Nghiên cứu này sẽ hệ thống hóa các lý thuyết nền tảng có thể ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư: lý thuyết ra quyết định nhằm tìm hiểu quá trình ra quyết định của nhà đầu tư, nhà đầu tư sử dụng thông tin tài chính như thế nào, và lựa chọn giải pháp tối ưu nhất để ra quyết định; các phương pháp phân tích nào được nhà đầu tư sử dụng khi ra quyết định đầu tư.1 Khái quát về lý thuyết ra quyết định 1.1 Định nghĩa về ra quyết định Có nhiều định nghĩa về ra quyết định, trong nghiên cứu này đề cập đến định nghĩa của Robert Harris, 2008. Việc ra quyết định chính là việc xác nhận và lựa chọn các vấn đề dựa trên giá trị của vấn đề và sự yêu thích của người ra quyết định.
Quá trình ra quyết định được ngụ ý rằng có nhiều sự lựa chọn được cân nhắc và trong mỗi trường hợp như vậy chúng ta không chỉ nhận dạng ra nhiều giải pháp thay thế nhau mà còn phải chọn ra giải pháp đạt được đáp ứng được hai mục tiêu sau (1) có khả năng thành công hoặc hiệu quả nhất và (2) đó là giải pháp đạt được mục tiêu, mong muốn, sở thích của chúng ta… Một định nghĩa khác của Robert Harris, 2008 nói rằng ra quyết định chính là quá trình nhằm làm giảm đi một cách đáng kể các sự kiện không chắc chắn và các nghi ngờ giữa các lựa chọn để cho phép chọn ra vấn đề chắc chắn nhất. Định nghĩa này nhấn mạnh đến chức năng liên kết thông tin trong quá trình ra quyết định.2 Quá trình ra quyết định Nhìn chung, có sáu bước cơ bản trong quá trình ra quyết định: Xác định vấn đề Xây dựng các tiêu chí sơ bộ Thu thập thông tin Đánh giá và lựa chọn các giải pháp phù hợp Đánh giá các phương án Xác định môi trường và lựa chọn phương án tốt nhất Hình 1. Quá trình ra quyết định Xác định vấn đề cần phải ra quyết định: câu hỏi đầu tiên khi ra quyết định là cần phải biết chúng ta đang giải quyết vấn đề gì. Chúng ta thường hành động và bị chi phối của những hiện tượng bề nổi mà quên đi cái gốc mà chúng ta cần phải giải quyết là gì, để rồi đầu tư vào những hiện tượng bề nổi mà quên đi vấn đề cốt lõi hoặc đầu tư vào những điểm không cần thiết dẫn đến lãng phí thời gian và công sức.
Xây dựng tiêu chí sơ bộ ra quyết định và giải quyết vấn đề: mọi quyết định khi đưa ra đều phải có những tiêu chí rõ ràng để đạt được những quyết định hiệu quả, tiêu chí càng rõ ràng bao nhiêu thì chúng ta càng có cơ hội ra quyết định chuẩn xác bấy nhiêu. Các tiêu chí được lựa chọn phải căn cứ vào mục đích của vấn đề và kết quả mà chúng ta hướng tới. Nếu việc đưa ra quyết định không dựa trên 123doc 7 các tiêu chí rõ ràng hoặc dựa trên cảm tính của người quyết định sẽ dẫn đến các sai lầm. Thu thập thông tin: trong bước này đòi hỏi người ra quyết định phải xác định được các loại thông tin cần thu thập, xác định được nguồn thông tin có thể thu thập, đề ra các phương pháp thu thập thông tin và các phương pháp xử lý thông tin và các thông tin này phải phù hợp với các tiêu chí đưa ra.
Đánh giá và lựa chọn các giải pháp/phương án: căn cứ vào các thông tin đã thu thập được, các tiêu chí đã lựa chọn và các phương pháp phân tích cụ thể để đưa ra các giải pháp/ phương án phù hợp có thể xảy ra. Đánh giá các giải pháp/phương án: việc xác định chi phí bỏ ra và lợi ích thu được của từng giải pháp/phương án đạt được sẽ cho phép người ra quyết định lựa chọn được giải pháp tối ưu, giải pháp tối ưu là giải pháp mà chúng ta vẫn có thể đạt được mục tiêu của mình mà vẫn đảm bảo các nguyên tắc nhưng vẫn có thể tiết kiệm được các nguồn lực tốt nhất dựa trên kinh nghiệm và thực nghiệm của người đưa ra quyết định. Xác định môi trường ra quyết định và ra quyết định cuối cùng: sau khi đánh giá các phương án và đề ra các phương án tối ưu nhất; người ra quyết định cần xem xét môi trường để ra quyết định và đưa đến quyết định cuối cùng.3 Các loại quyết định Trong cuộc sống, có rất nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta phải đưa ra quyết định, quyết định đầu tư cũng là một loại quyết định mà chúng ta cần phải thực hiện. Các quyết định đầu tư thường được phân loại như sau: Nếu quyết định đầu tư chủ yếu được phân loại theo thời gian đầu tư thì có quyết định đầu tư ngắn hạn và quyết định đầu tư dài hạn (hay còn gọi là quyết định đầu tư chiến lược), 123doc 8 Nếu phân loại theo khả năng và trình độ chuyên môn thì có quyết định đầu tư chuyên nghiệp và quyết định đầu tư không chuyên nghiệp, Nếu phân loại theo đối tượng ra quyết định thì có quyết định của nhà đầu tư trong nước và quyết định của nhà đầu tư nước ngoài.
Mỗi loại hình quyết định đầu tư khác nhau sẽ có một chiến lược cụ thể để ra quyết định trong đầu tư khác nhau. Đối với quyết định đầu tư ngắn hạn và không chuyên nghiệp thì thông thường nhà đầu tư sẽ sử dụng phương pháp phân tích kỹ thuật, tài chính hành vi và kinh nghiệm để ra các quyết định đầu tư của mình. Ngược lại các quyết định đầu tư dài hạn thường sử dụng các phân tích cơ bản cho quá trình ra quyết định đầu tư. Quá trình phân tích cơ bản sẽ tập trung vào việc phân tích các thông tin về nội tại của doanh nghiệp nhằm xác định giá trị cơ bản của doanh nghiệp.
Trong nghiên cứu này sẽ tập trung vào quá trình ra quyết định của các nhà đầu tư dài hạn thông qua việc sử dụng phương pháp phân tích cơ bản trong đầu tư.2 Khái quát chung về hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) 1.1 Định nghĩa về kế toán và chuẩn mực kế toán Kế toán là một hoạt động mang tính chuyên môn cao có chức năng cung cấp các thông tin trung thực, hợp lý về tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp cho người sử dụng có thể đưa ra các quyết định. Kế toán phải làm cho người sử dụng hiểu được, tin cậy và phải giúp so sánh được các thông tin tài chính. Muốn vậy, cần phải có các quy định làm khuôn mẫu giúp đánh giá, ghi nhận và trình bày thông tin tài chính, đó chính là những chuẩn mực kế toán. 123doc 9 Vậy chuẩn mực kế toán là những quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, nội dung, phương pháp và thủ tục kế toán cơ bản, chung nhất, làm cơ sở ghi chép kế toán và lập Báo cáo tài chính nhằm đạt được sự đánh giá trung thực, hợp lý, khách quan về thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.2 Chuẩn mực kế toán quốc tế Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống chuẩn mực đề cập đến những vấn đề mang tính nền tảng, khuôn mẫu, những nguyên tắc, phương pháp có tính chất cơ bản được chấp thuận rộng rãi trên toàn thế giới.
Cơ quan đầu tiên xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế chính là Ủy Ban chuẩn mực kế toán quốc tế (“IASC”). Đây là một tổ chức độc lập thành lập vào năm 1973, bao gồm đại diện của 13 nước thành viên trực thuộc Liên đoàn kế toán quốc tế (“IFAC”), đại diện của 03 tập đoàn kinh tế lớn và một số quan sát viên độc lập đến từ Ủy Ban Châu Âu, Trung Quốc, Ủy Ban chứng khoán quốc tế (IOSCO), Ủy Ban chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ. Đến năm 12/1999, IASC đã chỉ định ủy ban lựa chọn và thành lập Hội đồng thành viên (“Trustees”) gồm 22 thành viên đến từ các khu vực địa lý, lĩnh vực và chuyên môn khác nhau. Để thực hiện chức năng của mình, vào tháng 02/2001, Hội đồng thành viên Trustees đã thiết lập nên Ủy Ban sáng lập chuẩn mực kế toán quốc tế gồm ba tổ chức chính là Ủy Ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), Hội đồng cố vấn chuẩn mực (SAC) và Ủy Ban hướng dẫn các chuẩn mực báo cáo tài chính (IFRIC).
Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế được ban hành và quản lý bởi Ủy Ban sáng lập chuẩn mực kế toán quốc tế. Các chuẩn mực kế toán quốc tế (IASs) vẫn được kế thừa các chuẩn mực kế toán quốc tế do IASC ban hành trước đây và Ủy Ban sáng lập chuẩn mực kế toán quốc tế tiếp tục xây dựng, ban hành và phát triển các chuẩn mực kế toán mới với tên gọi là chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRSs. 123doc 10 Cho đến 01/01/2009, IASC và IASB đã ban hành được 30 chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) và 08 chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). Hiện nay, đang có sự dịch chuyển dần từ IAS sang IFRS bằng việc ban hành thêm IFRS.
Trong đó, IAS đứng trên khía cạnh nào đó mang nguyên tắc giá gốc nhiều hơn cùng với sự chuyển đổi qua IFRS nguyên tắc giá trị hợp lý được đề cập nhiều hơn. IFRS đề cập nhiều hơn đến việc trình bày thông tin tài chính như thế nào để đảm bảo lợi ích cao hơn cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính được lập ra từ kết quả của công việc kế toán, Mai Hương (2008).3 Chuẩn mực kế toán Việt Nam Với mục tiêu đáp ứng cho nhu cầu hội nhập, từ năm 1996 Việt Nam đã nghiên cứu toàn bộ hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS). Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam được nghiên cứu và xây dựng dựa trên cơ sở các IAS và IFRS được cập nhật mới nhất, nên thuận lợi là chuẩn mực kế toán Việt Nam đã được vận dụng sát với hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế. Tại Việt Nam, Bộ Tài chính là cơ quan có thẩm quyền ban hành các chuẩn mực kế toán.
Các chuẩn mực kế toán này được nghiên cứu và soạn thảo bởi Ban chỉ đạo nghiên cứu, soạn thảo chuẩn mực kế toán Việt Nam gồm 13 thành viên, bao gồm các thành viên đến từ các cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính và các thành viên đến từ các trường đại học và Hội kế toán Việt Nam.