Chương 1. Tổng quan đề tài nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu. Hàm ý quản trị. Tóm tắt chƣơng 1 Đề tài nghiên cứu đã hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết của các nghiên cứu trước và tự nghiên cứu về dịch vụ hành chính công, chất lượng dịch vụ hành chính công, mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ hành chính công và sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công, từ đó ứng dụng kết quả nghiên cứu tại UBND phường Bình Chuẩn. 5 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Nội dung chương 2 này sẽ giới thiệu các lý thuyết liên quan làm cơ sở lý luận cho thiết kế nghiên cứu.
Chương này trình bày các nội dung: Các khái niệm liên quan; Khung lý thuyết về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng; Các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất. Các khái niệm liên quan 2. Khái niệm dịch vụ hành chính công và chất lƣợng dịch vụ hành chính công 2. Tổng quan về dịch vụ hành chính công - Khái niệm về Dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong kinh tế học, có nhiều định nghĩa về dịch vụ.
Theo Valarie A Zeithaml và Mary Jo Britner (2000) thì “Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khác hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng (Kotler và Gary, 2004). Parasuraman và cộng sự (1985) tổng hợp được dịch vụ có ba đặc tính, bao gồm: tính vô hình (intangibility), tính khác biệt (heterogeneity) và tính không thể tách rời (inseparability). Parasuraman và cộng sự (1988) đưa ra thang đo chất lượng dịch vụ SERVQUAL để đo lường chất lượng dịch vụ gồm 5 thành phần cơ bản: (1) Phương tiện hữu hình (Tangibles); (2) Độ tin cậy (Reliability); (3) Đáp ứng (Responsiveness); (4) Đảm bảo (Assurance); (5) Cảm thông (Empathy).
Ngoài ra để đo lường chất lượng dịch vụ công cũng có phương pháp tiếp cận khác, chẳng hạn như Gronroos (1984) đề nghị về chất lượng dịch vụ được đánh giá bằng cách so sánh giữa giá trị mà khách hàng mong đợi trước khi sử dụng và giá trị mà khách hàng nhận được khi sử dụng dịch vụ và đo lường chất lượng dịch vụ bởi ba tiêu chí: 6 chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng và hình ảnh, hay chất lượng dịch vụ được đánh giá trên hai khía cạnh: Quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả dịch vụ (Lehtinen và Lehtinen, 1982). Philip Kotler và Kellers (2006) định nghĩa: “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Như vậy, có thể định nghĩa một cách chung nhất về dịch vụ như sau: Thứ nhất, dịch vụ là một sản phẩm, là kết quả của quá trình lao động và sản xuất nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người; Thứ hai, dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất, đời sống sinh hoạt của con người.
- Khái niệm về Dịch vụ công Theo TS. Lê Chi Mai (2003): “Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản các tổ chức và công dân, do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy nhiệm cho các cơ sở ngoài nước thực hiện nhằm bảo đảm trật tự và công bằng xã hội”. Chu Văn Thành (2004): “Dịch vụ công là những hoạt động của các tổ chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được nhà nước uỷ quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp nhu cầu thiết yếu chung của cộng đồng, công dân, theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội”. - Khái niệm, đặc điểm, phân loại Dịch vụ hành chính công + Khái niệm: Dịch vụ hành chính công: theo Nguyễn Hữu Hải và Lê Văn Hòa (2010), dịch vụ hành chính công là hoạt động do các tổ chức hành chính thực hiện liên quan đến việc phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và phục vụ việc quản lý nhà nước.
Về cơ bản dịch vụ này do cơ quan nhà nước thực hiện. 7 Thực ra, ở nhiều nước không dùng khái niệm dịch vụ hành chính, mà chỉ có dịch vụ công với nghĩa là đề cập đến tất cả những dịch vụ thuộc về chức năng và trách nhiệm của Nhà nước. Do điều kiện của Việt Nam, các thủ tục hành chính công thuộc nhóm này là một mảng công việc, rất lớn của các cơ quan hành chính nhà nước và nhiều nhận định cho rằng còn khá rườm rà. Chính vì vậy mà tồn tại khái niệm “Dịch vụ hành chính công” để phân biệt nó với các dịch vụ công cộng khác.
Về mặt pháp lý, Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ xác định: “Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý”. Như vậy, dịch vụ hành chính công là các hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước cung cấp cho người dân theo những quy định của pháp luật và không nhằm mục đích lợi nhuận. Trong đó, công dân thực hiện dịch vụ này không có quyền lựa chọn mà phải nhận những dịch vụ bắt buộc theo các quy định của pháp luật. + Đặc điểm của dịch vụ hành chính công Dịch vụ hành chính công có những đặc điểm chung của các loại dịch vụ như: không tồn tại hữu hình dưới dạng một sản phẩm; dịch vụ được cung cấp trực tiếp đến người hưởng thụ; có mối tương tác giữa người cung cấp và thụ hưởng trong quá trình tạo ra dịch vụ; không cố định về chất lượng.
Ngoài những đặc điểm chung này, dịch vụ hành chính công còn có những đặc điểm riêng: (1) Dịch vụ hành chính công chỉ có thể do các cơ quan hành chính nhà nước cung ứng. (2) Dịch vụ hành chính công phục vụ cho hoạt động quản lý của Nhà nước. (3) Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ mà Nhà nước bắt buộc và khuyến khích người phải làm để bảo đảm trật tự và an toàn xã hội. (4) Dịch vụ hành chính công không thể ủy quyền cho bất kỳ tổ chức nào ngoài cơ quan hành chính nhà nước thực hiện, bởi vì dịch vụ này gắn liền với thẩm quyền hành chính - pháp lý là loại thẩm quyền chỉ thuộc về cơ quan hành chính nhà nước và có hiệu lực khi được cơ quan hành chính nhà nước 8 thực hiện.
(5) Dịch vụ hành chính công là những hoạt động không vụ lợi, nếu có thu tiền thì thu dưới dạng lệ phí (chỉ dành cho những người cần dịch vụ) nộp ngân sách Nhà nước. (6) Mọi người dân có quyền ngang nhau trong việc tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ này với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền. + Phân loại dịch vụ hành chính công Xét trong điều kiện cụ thể của nước ta, căn cứ vào khái niệm và các đặc trưng nêu trên của dịch vụ hành chính công, có thể thấy các hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công của các cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay bao gồm các loại hình cơ bản sau: Hoạt động cấp các loại giấy phép như: Giấy phép xây dựng, giấy phép hành nghề, giấy phép đầu tư, giấy phép kinh doanh… Hoạt động cấp các loại giấy xác nhận, chứng thực bao gồm: Công chứng, cấp chứng minh thư, cấp giấy khai sinh, khai tử, cấp giấy đăng ký kết hôn, cấp bằng lái xe, đăng ký xe… Hoạt động thu các khoản đóng góp vào ngân sách và các quỹ của Nhà nước. Các hoạt động này gắn với nghĩa vụ mà Nhà nước yêu cầu các chủ thể phải thực hiện (thuế, các khoản đóng góp).
Giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và xử lý các vi phạm hành chính. Các loại giấy tờ, chứng từ phát sinh từ các loại hoạt động nói trên phản ánh kết quả cụ thể của các dịch vụ hành chính công. Vì vậy, dịch vụ hành chính công phải được hiểu như các hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức, công dân. Tổng quan về Chất lượng dịch vụ hành chính công - Chất lượng dịch vụ Chất lượng là tất cả đặc điểm, đặc tính của sản phẩm, dịch vụ liên quan tới khả năng làm thỏa mãn những nhu cầu tiềm ẩn hoặc được xác định.
Sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng khi nó đáp ứng hoặc vượt mong đợi của khác hàng (Kotler và Keller, 2009). 9 Chất lượng dịch vụ có nhiều cách định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu, môi trường nghiên cứu và việc tìm hiểu chất lượng dịch vụ là cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp cải thiện chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp. Vì vậy, việc định nghĩa chất lượng dịch vụ không chỉ quan trọng trong việc xây dựng mục tiêu phát triển mà còn định hướng cho doanh nghiệp phát huy được thế mạnh của mình một cách tốt nhất. Theo Lehtinen (1982) cho rằng chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: Quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ.
Theo Parasuraman, Zeithaml và Berry (1985) thì chất lượng dịch vụ là khi cảm nhận của khách hàng về một dịch vụ đã tạo ra ngang xứng với kỳ vọng trước đó của họ. Theo Parasuraman thì kỳ vọng chất lượng dịch vụ là những mong muốn của khách hàng, nghĩa là họ cảm thấy nhà cung cấp phải thực hiện chứ không phải sẽ thực hiện các yêu cầu về dịch vụ. Theo Hurbert (1995) thì trước khi sử dụng dịch vụ, khách hàng đã hình thành một “kịch bản” về dịch vụ đó. Khi “kịch bản” của khách hàng và nhà cung cấp không giống nhau, khách hàng sẽ cảm thấy không hài lòng.