CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Rào cản kỹ thuật trong WTO: Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của Tổ chức thương mại thế giới WTO vào ngày 11/01/2007 đã tạo ra những cơ hội và thách thức mới cho các ngành sản xuất, thương mại, dịch vụ trong nước nhất là đối với lĩnh vực nông nghiệp. Bên cạnh thuế quan là công cụ bảo hộ đã được các định chế thương mại quốc tế thừa nhận, các biện pháp phi thuế quan cũng được rất nhiều quốc gia sử dụng bởi những ưu điểm như khả năng tác động nhanh, mạnh, linh hoạt và phong phú và có thể đáp ứng nhiều mục tiêu trong cùng một thời điểm1 nhằm phát huy được những thế mạnh của nước mình, tận hưởng những lợi ích cao nhất cho quốc gia từ thương mại quốc tế. Do trình độ phát triển kinh tế của các nước không đồng đều, vì vậy nhiều quốc gia còn duy trì các rào cản thương mại nhằm bảo hộ sản xuất nội địa, điều này khiến cho các hàng rào phi thuế quan càng trở nên đa dạng.
Một trong những rào cản phi thuế quan được các quốc gia sử dụng có liên quan đến lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đó là các qui định về tiêu chuẩn kỹ thuật đối với sản xuất sản phẩm. Hiệp định Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại đề cập đến mục đích sử dụng hàng rào kỹ thuật như sau: - Đối với người tiêu dùng: Dễ dàng lựa chọn và sử dụng những sản phẩm thích hợp có chất lượng và thông số kỹ thuật phù hợp với yêu cầu của mình. - Đối với người sản xuất: Giúp cho việc sản xuất qui mô lớn theo một thông số nhất định về kích thước, tiêu hao nguyên liệu, bán thành phẩm được sản xuất từ nhiều nguồn gốc khác nhau. - Đối với người bán: có thể dễ dàng hiểu nhau khi giao dịch, đàm phán.
Biện pháp Kiểm dịch động vật và thực vật (SPS – Sanitary and Phytosanitary Regulations) được coi là những biện pháp phi thuế quan nằm trong nhóm tiêu chuẩn 1 Hàng rào Phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế - TS. Nguyễn Hữu Khải, NXK Lao động xã hội 2005, trang 7. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 kỹ thuật và không thuộc loại bị WTO ngăn cấm chặt chẽ. Điều 2, Hiệp định SPS qui định cụ thể như sau: Các thành viên không bị ngăn cản ban hành hay thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ sức khoẻ con người, động vật và thực vật với điều kiện các biện pháp này không được áp dụng theo cách thức tạo ra sự phân biệt đối xử không hợp lý và tuỳ tiện, hay hạn chế một cách vô lý đến thương mại quốc tế.
Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật là biện pháp phi thuế quan chủ yếu mà EU áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nước ngoài liên minh vì thuế nhập khẩu vào EU đang giảm dần, các nước đang phát triển được EU cho hưởng thuế quan ưu đãi GSP. Hệ thống này đã chứng minh tính hiệu quả và sự phù hợp với xu thế chung của thương mại thế giới và được nhiều quốc gia khác áp dụng. Hệ thống được cụ thể hoá ở 5 tiêu chuẩn của sản phẩm: Tiêu chuẩn chất lượng; Tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm; Tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng; Tiêu chuẩn bảo vệ môi trường; Tiêu chuẩn về lao động. Trong đó, sản phẩm nông nghiệp được dán nhãn GAP hoặc GlobalGAP đang ngày càng được ưa chuộng và trở thành yếu tố không thể thiếu đối với hàng nông sản khi xuất khẩu vào EU.
Do vậy, một trong những yếu tố quyết định đối với việc hàng hoá nông sản của các nước thâm nhập được vào thị trường EU chính là hàng hoá đó phải vượt qua được các rào cản kỹ thuật GAP của EU. Đối với thị trường Hoa Kỳ: để bảo vệ lợi ích kinh tế, an ninh, sức khỏe người tiêu dùng và bảo tồn động thực vật trong nước, Chính phủ và Hải quan Hoa Kỳ đưa ra những đạo luật qui định về vệ sinh dịch tễ hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm hạn chế hoặc cấm một số loại hàng hoá nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ. Ví dụ mặt hàng hoa quả, rau và hạt các loại phải qua giám định và được cấp Giấy chứng nhận của Cơ quan giám định và an toàn thực phẩm thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. Các điều kiện hạn chế khác có thể được áp đặt bởi Cơ quan giám định thực vật và động vật thuộc Bộ nông nghiệp theo Luật Kiểm dịch động vật; cơ quan FDA theo Luật thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm Liên bang.
Với Nhật Bản, hàng hoá nhập khẩu được kiểm soát bằng một hệ thống luật pháp tương đối chặt chẽ vì các lý do bảo vệ an ninh quốc gia, lợi ích kinh tế hoặc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 bảo đảm an toàn, vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng. Nhà sản xuất và người kinh doanh sản phẩm phải bồi thường đối với các thiệt hại do sử dụng những sản phẩm có chất lượng không bảo đảm. Ví dụ Luật vệ thực phẩm của Nhật được ban hành với mục đích là bảo vệ sức khoẻ con người. Điều 4 của Luật cấm kinh doanh hay thu mua, sản xuất, nhập khẩu, chế biến,sử dụng, pha chế, lưu trữ hay trưng bày đối với mục đích bán những sản phẩm sau: Thực phẩm bị hỏng, thối ngoại trừ những sản phẩm được biết là không có hại đối với con người; Những thực phẩm có chứa hay bị nghi ngờ có chất độc hại; Thực phẩm gây ảnh hưởng xấu với vi sinh vật gây bệnh hoặc những vi khuẩn gây ra ngộ độc thức ăn hay bệnh truyền nhiễm; Thực phẩm có thể gây hại cho sức khoẻ con người do mất vệ sinh gồm các yếu tố ngoại vi hoặc bất kỳ nguyên nhân nào khác.
Tóm lại, qua việc xem xét một số rào cản về mặt kỹ thuật của các thị trường EU, Mỹ, Nhật cho thấy những thách thức đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Các rào cản kỹ thuật và an toàn thực phẩm thường cao hơn khả năng đáp ứng của nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Do vậy, để đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn kỹ thiật, vệ sinh an toàn thực phẩm và sự an toàn cho người sử dụng, bảo vệ môi trường sinh thái,… các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất hàng nông sản buộc phải đầu tư đổi mới trang thiết bị và qui trình sản xuất hiện đại. Lý thuyết về Chuyển giao công nghệ sản xuất nông nghiệp: Như trên đã trình bày, trong thương mại quốc tế ngày nay đặc biệt đối với hàng nông sản, các quốc gia thường đưa ra những quy định kỹ thuật nhằm hạn chế hàng hoá nhập khẩu để bảo vệ sản xuất trong nước, bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng.
Chính vì vậy, trong lĩnh vực nông nghiệp, việc ứng dụng qui trình canh tác tiên tiến và hiện đại nhằm đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật của các nước nhập khẩu đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh với nông sản được nhập khẩu từ các quốc gia khác vào thị trường nội địa vô cùng cần thiết đối với các quốc gia xuất khẩu nhất là các nước đang phát triển, mới gia nhập WTO như Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Theo lý thuyết về chuyển giao công nghệ sản xuất nông nghiệp (sách Kinh tế nông nghiệp – Lý thuyết và thực tiễn – TS. Đinh Phi Hổ, NXB. Thống kê 2003) thì sự thay đổi công nghệ sản xuất nông nghiệp cho phép sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn trên một đơn vị diện tích hoặc chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm thấp hơn.
Tuy nhiên, công nghệ tiên tiến hiện đại không phải là tất cả. Nó mới chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là phải có sự tiếp thu và áp dụng công nghệ đó vào thực tiễn sản xuất của người nông dân, năng suất lao động không thể tăng được nếu có khoảng cách giữa công nghệ và nhận thức. Một yếu tố chủ yếu trong quá trình nối kết giữa công nghệ sản xuất nông nghiệp mới được tạo ra từ các tổ chức nghiên cứu khoa học với việc gia tăng năng suất chính là sự phổ biến các công nghệ sản xuất nông nghiệp mới đó đến nông dân, với hệ quả là có sự ứng dụng rộng rãi đối với nông dân. Khi nông dân biết được công nghệ sản xuất mới, họ thường có xu hướng nhận thức không chính xác về chi phí cũng như lợi ích mang lại từ công nghệ sản xuất mới vì sự giới hạn về thông tin mà họ nhận được.
Nếu nông dân có thông tin một cách đầy đủ và tin cậy, họ sẽ áp dụng và như vậy chính họ sẽ hưởng được lợi ích từ việc áp dụng các công nghệ sản xuất mới (lợi ích tư nhân) và điều này cũng mang lại nhiều sản phẩm hơn cho nền kinh tế (lợi ích xã hội). Rủi ro khi ứng dụng công nghệ mới: Khi nói về rủi ro, câu hỏi đặt ra là mức độ và loại rủi ro nào có thể xảy ra? Nếu kết quả mong đợi của hành động có tỷ lệ thất bại là 99% thì chắc chắn nhiều người sẽ không chấp nhận hành động đó. Ngược lại, khi kết quả mong đợi có tỷ lệ thành công là 99% thì chắc chắn rằng sẽ có nhiều người muốn tham gia hành động có chứa đựng rủi ro. Vì thế, mức độ và loại rủi ro là điều kiện chủ yếu phải được biết trước khi một người thận trọng chấp nhận việc thực hiện một hành động mà rủi ro có thể mang lại.
Điều này cũng ứng dụng đối với cư xử của nông dân trong việc áp dụng các kỹ thuật mới hoặc qui trình canh tác mới. (1971), có 6 nguyên nhân chính giải thích lý do vì sao mà nông dân không sẵn lòng ứng dụng kỹ thuật mới như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 (i) Không biết hoặc không hiểu về kỹ thuật mới; (ii) Không có đủ năng lực để thực hiện; (iii) Không được chấp nhận về mặt tâm lý, văn hóa và xã hội; (iv) Không được thích nghi: kỹ thuật mới chưa được thử nghiệm tại địa phương mà nông dân cư trú. Một sự hồ nghi sẽ xuất hiện vì không biết là điều kiện tự nhiên ở địa phương có thích hợp không. (v) Không khả thi về kinh tế; (vi) Không sẵn có điều kiện để áp dụng; * Các giai đoạn ứng dụng kỹ thuật mới và cách cư xử chấp nhận rủi ro: Rogers (1971) mô tả sự áp dụng kỹ thuật mới bởi nông dân như là một quá trình 5 giai đoạn như trong sơ đồ dưới đây: Biết Quan tâm Đánh giá: 1.
Phân tích lợi ích – chi phí 2.