Chương 1: Giới thiệu đề tài, trong chương này bài nghiên cứu trình bày lý do thực hiện đề tài, nêu lên mục tiêu nghiên cứu, cũng như các vấn đề mà bài nghiên cứu sẽ giải quyết. Bên cạnh đó, ở chương này cũng đề cập đến phương pháp được sử dụng trong bài nghiên cứu, nêu ra ý nghĩa cũng như bố cục của bài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và Tổng quan các nghiên cứu trước đây, ở chương này, tác giả trình bày khung lý thuyết, đưa ra bằng chứng thực nghiệm từ những nghiên cứu trước đây của nhiều tác giả trên thế giới về tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp và các lập luận để đưa đến bài nghiên cứu này. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trong chương này, tác giả tiến hành mô tả dữ liệu; trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, nguồn gốc dữ liệu, mô tả các biến độc lập, biến phụ thuộc và biến kiểm soát của mô hình.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày bằng chứng thực nghiệm cho thấy có tồn tại tác động của quản trị vốn luân chuyển đến hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TPHCM, trong chương này tác giả trình bày và thảo luận về kết quả của quá trình nghiên cứu, bao gồm các phân tích về thống kê mô tả, phân tích tương quan, phân tích hồi quy và kiểm định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chương 5: Kết luận, chương này tác giả rút ra kết luận chung cho cả bài nghiên cứu, đồng thời nêu ra những hạn chế khi thực hiện đề tài này tại Việt Nam và đề xuất hướng phát triển cho đề tài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.1 Vốn luân chuyển và quản trị vốn luân chuyển 2.1 Vốn luân chuyển Vốn luân chuyển tlà thước đo hiệu quả hoạt động của công ty. Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, các tài sản này chuyển hoá qua tất cả các dạng tồn tại từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản banđầu là tiền mặt.
Với sự chuyển hoá nhanh như vậy, các hoạt động quản trị vốn luân chuyểnchiếm gần như phần lớn thời gian và tâm trí của các nhà quản trị tài chính. Nhiệm vụ đáp ứngđ ầy đủ nhu cầu vốn cho vốn luân chuyển là yếu tố thúc đẩy sự chuyển hoá nhanh chóng giữacác hình thái tồn tại cơ bản của tài sản ngắn hạn để liên tục sản sinh ra tiền mặt. Vốn luân chuyển được Moyer, McGuigan và Kretlow (2004) gọi là những khoản tiền cần thiết để thanh toán cho các hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Tươngtự, Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2006); Brigham và Houston (2007) định nghĩavốn luân chuyển hay tổng vốn luân chuyển (Grossworking capital) là tổng tài sản ngắn hạncủa doanh nghiệp, bao gồm: tiền mặt và cáckhoảntương đương tiền, các khoản đầutư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thungắn hạn, hàng tồn kho, các tài sản ngắnh ạn khác (chi phí trả trước ngắn hạn) sửdụng để tài trợ cho các hoạt động sản xuấtkinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp.
Vốn luân chuyển (Working Capital) được định nghĩa là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợngắn hạn phải trả. Theo nghĩa rộng,vốn luân chuyển là giá trị của toànbộ tài sản ngắn hạn, những tài sảngắn liền với chu kỳ kinh doanh củacông ty. Trong mỗi chu kỳ kinhdoanh, chúng chuyển hoá qua tấtcả các dạng - tồn tại từ tiền mặt đếnhàng tồn kho, khoản phải thu vàtrở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt. Với sự chuyển hoá nhanh như vậy, các hoạt động quản trị vốn luân chuyển chiếm gần như phần lớn thời gian và tâm trí của các nhà quản trị tài chính.
Vốn luân chuyển bao gồm bốn thành phần chính là tiền mặt, chứng khoán khả nhượng, hàng tồn kho và khoản phải thu. Chương này tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chức năng quản trị từng yếu tố này. Đối với mỗi loại tài sản, công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 ty đều phải nhận thức rằng, tài sản ngắn hạn rất cần thiết đối với hoạt động kinh doanh và tài sản ngắn hạn càng lớn thì rủi ro hoạt động càng thấp, tuy nhiên, công ty phải chịu phí tổn cho việc duy trì vốn luân chuyển.2 Quản trị vốn luân chuyển 2.1 Khái niệm và nội dung quản trị vốn luân chuyển Quản trị vốn luân chuyển với mục tiêu chính là phải đảm bảo đủ dòng tiền để các công ty duy trì hoạt động kinh doanh một cách bình thường trên cơ sở giảm thiểu rủi ro mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong ngắn hạn. Do vậy, hiệu quả của quản trị vốn luân chuyển phụ thuộc vào sự cân đối giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp (Faulender và Wang – 2006; Filbeck, Krueger và Preece - 2007).
Sự thiếu hụt vốn luân chuyển có thể gây trục trặc cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp nhưng đầu tư quá nhiều vào vốn luân chuyển thì lại làm giảm rủi ro thanh khoản, sẽ làm tăng chi phí cơ hội của đầu tư, đặc biệt khi doanh nghiệp dùng nguồn vốn từ bên ngoài để tài trợ cho vốn luân chuyển. Quản trị vốn luân chuyển là quá trình xây dựng chính sách vốn luân chuyển và thực hiện chính sách ấy trong hoạt động kinh doanh thường ngày của doanh nghiệp, nhằm đảm bảo doanh nghiệp có khả năng duy trì tính thanh khoản và đáp ứng đầy đủ các nghĩa vụ ngắn hạn của doanh nghiệp. Quản trị vốn luân chuyển bao gồm việc quyết định mức tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho hợp lý và cách thức tài trợ sao cho chi phí là nhỏ nhất.2 Hoạch định nhu cầu vốn luân chuyển Xuất phát từ vai trò không thể thiếu của vốn luân chuyển đòi hỏi phải luôn có một lượng vốn luân chuyển để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của doanh nghiệp. Nhưng lượng vốn luân chuyển đó là bao nhiêu thì phù hợp bởi nếu vốn luân chuyểnthừa quá hoặc thiếu quá đều không có lợi, vốn luân chuyển thừa quá sẽ gây ứ đọng vốn và ngược lại nếu ít quá sẽ gây cho doanh nghiệp những khó khăn, tác động xấu đến hoạt động kinh doanh.
Những khía cạnh đó đòi hỏi phải xác định được lượng vốn luân chuyển định mức cho kỳ kế hoạch. Vốn luân chuyển định mức được hiểu là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 số vốn luân chuyển có thể quy định mức tối thiểu, cần thiết thường xuyên cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.3 Quản trị hàng tồn kho Hàng tồn kho dự trữ của doanh nghiệp là những tài sản mà doanh nghiệp lưu giữ để sản xuất hoặc bán ra sau này. Trong các doanh nghiệp, tài sản tồn kho dự trữ thường ở ba dạng: nguyên vật liệu, nhiên liệu dự trữ sản xuất; các sản phẩm dở dang và bán thành phẩm; các thành phẩm chờ tiêu thụ. Tùy theo nghành nghề kinh doanh mà tỷ trọng các loại tài sản dự trữ có khác nhau.
Việc quản lý hàng tồn kho dự trữ trong các doanh nghiệp là rất quan trọng, không phải chỉ vì trong doanh nghiệp dự trữ tồn kho thường chiếm tỉ lệ đáng kể trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Điều quan trọng hơn là nhờ có dự trữ tồn kho đúng mức, hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp không bị gián đoạn sản xuất, không bị thiếu sản phẩm hàng hoá để bán, đồng thời lại sử dụng tiết kiệm và hợp lý vốn luân chuyển. Đối với mức dữ trữ tồn kho nguyên vật liệu, nhiên liệu thườngphụ thuộc vào: quy mô sản xuất và nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu cho sản xuất của doanh nghiệp, khả năng sẵn sàng cung ứng của thị trường, chu kỳ giao hàng, thời gian vận chuyển và giá cả của các loại nguyên vật liệu. Đối với mức tồn kho dự trữ bán thành phẩm, sản phẩm dở dang phụ thuộc vào: đặc điểm và các yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ trong quá trình chế tạo sản phẩm, độ dài thời gian chu kỳ sản xuất sản phẩm, trình độ tổ chức quá trình sản xuất của doanh nghiệp.4 Quản trị tiền mặt Tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển và tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn là một bộ phận quan trọng cấu thành vốn bằng tiền của doanh nghiệp.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu dự trữ tiền mặt ở một quy mô nhất định. Nhu cầu dự trữ tiền mặt trong các doanh nghiệp thông thường là để đáp ứng yêu cầu giao dịch hàng ngày như mua sắm hàng hoá, vật liệu, thanh toán các khoản chi phí cần thiết. Ngoài ra còn xuất phát từ nhu cầu dự phòng để ứng phó với những nhu cầu vốn bất thường chưa dự đoán được và động lực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 trong việc dự trữ tiền mặt để sẵn sàng sử dụng khi xuất hiện các cơ hội kinh doanh có tỷ suất lợi nhuận cao. Việc duy trì một mức dự trữ tiền mặt đủ lớn còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội thu được chiết khấu trên hàng mua trả đúng kỳ hạn, làm tăng hệ số khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp.
Quy mô về lượng tiền mặt nắm giữ là kết quả thực hiện nhiều quyết định kinh doanh trong các thời kỳ trước, song việc quản trị tiền mặt không phải là một công việc thụ động. Nhiệm vụ quản trị tiền mặt do đó không phải chỉ là đảm bảo chodoanh nghiệp có đủ lượngtiền mặt cần thiết để đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán mà quan trọng hơn là tối ưu hóa lượng tiền mặt hiện có, giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái và tối ưu hóa việc đi vay ngắn hạn hoặc đầu tư kiếm lời.5 Quản trị các khoản phải thu Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để khuyến khích người mua, doanh nghiệp thường áp dụng phương thức bán chịu đối với khách hàng. Điều này có thể làm tăng thêm một số chi phí do việc tăng thêm các khoản nợ phải thu của khách hàng như chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro.Đổi lại doanh nghiệp cũng có thể tăng thêm được lợi nhuận nhờ gia tăng số lượng sản phẩm tiêu thụ. Quy mô các khoản phải thu chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như sau: Thứ nhất,khối lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ bán chịu cho khách hàng.