Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác động của QTTT đến kết quả hoạt động NCKH của trường đại học. Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của QTTT đến kết quả hoạt động NCKH của trường đại học. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Thảo luận và khuyến nghị. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VE TÁC ĐỘNG CUA QUAN TRI TRI THỨC TỚI KET QUA HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Quản trị tri thức trong trường đại hoc Từ cuối những năm 80 đầu những năm 90 thé kỷ XX, nhân loại chứng kiến sự phát triển của kinh tế tri thức, dựa trên nền tảng là việc kiến tạo, phổ biến và sử dụng tri thức, thông tin. Tri thức được thừa nhận là nhân tố chính cho tăng trưởng kinh tế.
Theo Quintas và các cộng sự (1997), Quan trị tri thức là quá trình quan lý một cách can trọng tri thức dé dap ứng các nhu cầu hiện hữu, dé nhận ra và khai thác những tai sản tri thức hiện có và có thể đạt được và để phát triển những cơ hội mới. Quản trị tri thức và những nội dung liên quan được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, như: các lý thuyết về học tập trong tổ chức có ảnh hưởng lớn đến lý thuyết về tri thức trong tô chức, đặc biệt là khi những lý thuyết về quá trình kiến tạo tri thức trong tổ chức, tiếp cận tri thức, phô biến tri thức và ứng dụng tri thức. Theo APO (2010), QTTT là cách tiếp cận kết hợp các khía cạnh, nội dung của việc kiến tạo, tiếp cận, phố biến, chia sẻ và ứng dụng tri thức dé gia tăng năng suất, lợi nhuận và khả năng phát triển của các tổ chức. Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, với sự cạnh tranh quyết liệt trong phát triển kinh tế, tri thức đã và đang trở thành nhân t6 đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của tổ chức, là biến số cho sự thành công hoặc thất bại.
Nam giữ được tri thức, quản trị được tri thức, là có thé đạt được mục tiêu một cách nhanh chóng, hiệu quả. Tiếp cận lĩnh vực giáo dự đại hoc, QT TT được coi là các hoạt động quan tri thực tiễn giúp nhà trường nâng cao vai trò giảng dạy, nghiên cứu cứu khoa học và hoạt động quản lý cũng như thúc đây từng cá nhân kiến tạo, tiếp cận, phô biến, chia sẻ dữ liệu thông tin, tri thức trong quá trình ra quyết định (Petride và Nodine, 2003). Tổng kết của họ cho thấy, các nghiên cứu chia quản trị tri thức thành các bước không hoàn toàn giống nhau nhưng tựu chung lại có 4 thành phần và bước hoạt động cơ bản gôm: kiên tạo, tiêp cận, chia sẻ và ứng dung tri thức. Có một sự nhận thức sâu rộng về tam quan trọng của đóng góp do QTTT đến hiệu quả hoạt động của các trường đại học (Arntzen et al., 2009; Tuan et al., 2015; Veer Ramjeawon & Rowley, 2020).
Theo đó, các nhà khoa học đã chi ra rằng kiến tao tri thức (knowledge creation) và tiếp cận tri thức (knowledge access) có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê về liên hệ với đổi mới sáng tạo về hành chính, trong khi đó, kiến tạo tri thức và tiếp cận tri thức liên quan đến đổi mới sáng tao công nghệ (e., Thang et al., 2021), nhưng không có nhiều thông tin về các quy trình QT TT trong nội bộ các trường đại học. Thêm vào đó, khi các nghiên cứu tiền nhiệm đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứ về QTTT và chỉ ra liên kết đối với kết quả đổi mới kiến tạo, ứng dụng của QTTT trong việc thiết kế và phát triển một chương trình đào tạo liên ngành cụ thể còn ít được quan tâm và thiếu thông tin. Các trường đại học là nơi phù hợp để ứng dụng các phương pháp QTTT từ đó kiến tạo, phố biến và chuyên giao tri thức (V. Nair & Munusami, 2019) vì HEIs bao gồm nhiều giáo sư, các nhà nghiên cứu khoa học, chuyên gia và được nhận định là một loại tổ chức chú trọng về tri thức (knowledge intensive) (Ramachandran et al., 2009; Veer Ramjeawon & Rowley, 2020).
Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu khoa học đã phát hiện ra trong thời gian gần đây, QTTT đối với các trường đại học là một dạng quản trị đặc thù, dé quản tri tri thức đến từ các bên liên quan trong nội bộ tô chức (nhân sự, nhà khoa hoc , các việc trực thuộc, sinh viên, hoc viên,. ) khiến cho các trường đại học khác biệt nhiều với các loại hình tổ chức công lẫn tư khác. Cụ thé hon, các trường đại học không chỉ phô biến tri thức tới sinh viên mà còn đóng góp trực tiếp trong quá trình thiết kế và quản trị cả tri thức hiện hành lẫn trí thức mới cho xã hội (Serdyukov, 2017; Rinaldi et al., 2018; Thang et al. Trong thoi dai ky thuat số, việc nền kinh tế toàn cầu chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức đã tạo ra thách thức lớn đối với các trường đại học trong việc đào tạo người học đề thích ứng với nhu cầu của thị trường 5 lao động cũng như xã hội (V.
Nền kinh tế tri thức cũng đưa ra nhận định các cách thức để giáo dục và tri thức trở thành một công cụ phục vu gia tang sản xuất dé tạo ra các 10 giá trị và lợi nhuận cho cá nhân, doanh nghiệp và nền kinh tế địa phương, quốc gia. Do đó, các trường đại học cần ứng dụng QTTT trong tổ chức của mình để nâng cao chất lượng dịch vụ và giải quyết nhu cầu của người học cũng như các bên liên quan (Arntzen et al., 2009; Tuan et al., 2015; Veer Ramjeawon & Rowley, 2020). Tiếp theo đó, các trường dai học cần phải nâng cao hiệu quả của các quy trình QTTT. Thang et al., (2021) đã nhận định 04 quy trình QTTT quan trọng trong các trường đại học, bao gồm: Kiến tạo tri thức, tiếp cận tri thức, phổ biến tri thức và ứng dụng tri thức.
Những nghiên cứu về kiến tạo tri thức Trong các xu hướng nghiên cứu về quản trị tri thức thì nghiên cứu về kiến tạo tri thức là hướng nghiên cứu chủ chốt và chiếm tỉ trọng lớn nhất; với mục đích tạo ra môi trường với những điều kiện thuận lợi cho việc tìm ra tri thức mới, hiểu biết mới, công nghệ mới và ứng dụng sâu sắc tri thức và các thành quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn sản xuất, quan trị và đời sống. Tuy nhiên, không có nghiên cứu nào chỉ tập trung vào kiến tạo tri thức mà không đề cập đến các thành phần khác của quản trị tri thức (tiếp cận, phố biến và ứng dụng tri thức). Có thé kế đến các nghiên cứu quốc tế và trong nước sau đây về kiến tạo tri thức: Trường đại học là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi học thuật (hội thảo khoa học, seminar, trao đổi chuyên gia, giảng viên, trao đổi sinh viên, trao đổi chương trình đào tạo, hợp tác nghiên cứu giữa các cá nhân và nhóm nghiên cứu, chia sẻ cơ sẻ vật chất.) một cách thường xuyên, liên tục và gắn liền với hoạt động đổi mới sáng tạo. Do đó, các hoạt động về kiến tạo tri thức diễn ra một cách thuận lợi và hiệu quả.
Điền hình cho các nghiên cứu này là các tác giả sau đây: Thomas Steward (1999); Ikujiro Nonaka (1995); Gold và cộng sự (2001); Lee và cộng sự (2005); Bùi Thế Cường (2014); Nguyễn Ngọc Thắng (2020); Serdyukov (2017); Ramjeawon (2019); Rinaldi (2018); OECD (2014); Đỗ Trung Tuấn (2019); Nguyễn Thị Phương Linh (2019); M Nishad Nawaz (2014); Roshayu (2015). Trong các trường đại học, hoạt động thu nạp tri thức được xác định vi trí rất quan trọng khi mà tri thức mới từ các nguôn bên trong và bên ngoài được đội ngũ 11 giáo viên và nghiên cứu viên liên tục và thường xuyên cập nhật nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và mở rộng hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học. Ví dụ: Nghiên cứu của các tác giả sau đây: Thomas Steward (1999); Jarnett (1996); Miltiadis (2003); Maria va cộng sự (2017); Marco Romano (2014); Nguyễn Ngọc Thắng (2020); Serdyukov (2017); Ramjeawon (2019); Rinaldi (2018); OECD (2014); Đỗ Trung Tuấn (2019); Nguyễn Thi Phuong Linh (2019); M Nishad Nawaz (2014). Nhân sự (gồm các giảng viên và nghiên cứu viên) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong vấn đề kiến tạo tri thức ở các trường đại học.
Điều này có nghĩa là các trường đại học phải xây dựng và ban hành những chính sách phù hợp đề thu hút nhân sự về quản trị tri thức dé tăng cường chất xám. Việc thu hút nhân sự đòi hỏi phải có những chính sách đột biến, theo hướng cạnh tranh với các trường đại học và các lĩnh vực khác. Điển hình cho các nghiên cứu này là các tác giả: Ikujiro Nonaka (1995); Somnuk và cộng sự (2010); Lee và cộng sự (2005); Balasubramanian (2019); Marco Romano (2014); Jing Tian và cộng sự (2009); Nguyễn Ngọc Thang (2020); Đỗ Trung Tuan (2019); Nguyễn Thị Phương Linh (2019); M Nishad Nawaz (2014). Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra răng hợp tác trong nghiên cứu khoa học là một trong những chính sách và biện pháp quan trọng trong trường đại học nhằm tạo ra tri thức.
Qua hoạt động hợp tác nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu viên có cơ hội trao đối học thuật và tạo môi trường sáng tạo thuận lợi; từ đó, họ có thé thu thập tri thức từ các nguồn nội bộ và ngoại bộ. Điều này giúp thu hút nhân sự có chuyên môn quan trị tri thức dé gia tăng khả năng phục vụ quản trị tri thức trong các trường đại học. Ví dụ, một số tác giả như Jarnett (1996), Young (2003), Nguyễn Hồng Minh (2014), Bùi Thế Cường (2014), và Nguyễn Ngọc Thăng (2020) đã tiến hành nghiên cứu trong lĩnh vực này. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng: Những ý tưởng kiến tạo và cách tiếp cận mới luôn phải được các trường đại học chấp nhận, tiếp thu bat chấp những yếu tố rủi ro.
Điều này đặt ra cho các trường đại học nhiệm vụ liên kết với các doanh nghiệp, quỹ khởi nghiệp sáng tạo để những ý tưởng kiến tạo và cách tiếp cận mới được thê hiện 12 và ứng dụng trong thực tế quản trị tri thức và thực tế kinh doanh sản xuất. Và, đó là sứ mệnh của các trường đại học trong bối cảnh chuyền đổi số và xây dựng các đại học thông minh, dựa trên tri thức. Điển hình cho các nghiên cứu này là các tác giả: Jarnett (1996); Young (2003); Nguyễn Hồng Minh (2014); Bùi Thế Cường (2014); Nguyễn Ngoc Thắng (2020); Đỗ Trung Tuan (2019); M Nishad Nawaz (2014).