CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này sẽ khái quát hóa lại một số nghiên cứu thực chứng gần đây của các hoc giả hàng đâu thé giới trong lĩnh vực quản trị sản xuất về mdi liên hệ giữa quan trị chất lượng, sản xuất JIT, kết quả chất lượng và kết quả cạnh tranh. Cơ sở lý luận về quản trị chất lượng 1. Tổng quan Quản trị chất lượng Để đáp ứng với áp lực cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, khi mà nhu cầu của khách hàng mong muốn những sản phẩm và dịch vụ hoàn hảo, thị trường quốc tế đang trở nên vô cùng nóng bỏng, nhiều tổ chức đã áp dụng các thực hành như quản trị chất lượng toàn diện (TQM) và đối chuẩn (benchmarking). Nhiều học giả cho rằng, các nhà quản trị có thể thực hiện quản trị chất lượng trong bắt kì tổ chức nào, trong bất kì lĩnh vực nào như là sản xuất, dịch vụ, giáo dục và chính phủ (Dean và Bowen, 1994), và nhờ đó sẽ thúc day cải tiến sản phẩm và dịch vụ, sự hài long của khách hàng và nhân viên, đồng thời tiết kiệm chỉ phí, cải thiện kết quả tài chính, tăng cường năng lực cạnh tranh và năng suất (Zu, 2009; Kaynak, 2003; Deming, 1986).
Các tổ chức đi theo chiến lược quản trị chất lượng tập trung vào việc thực hiện và duy trì kết quả chất lượng cao bằng cách sử dụng các thực hành quản trị chất lượng như là yếu tố đầu vào và kết quả chất lượng là yếu tố đầu ra (Flynn, Schroeder và Sakakibara, 1994). Trong đó, cũng theo Flynn, các thực hành có thê được hiéu là những hoạt động được thực hiện liên tục, có tính lặp lại hàng ngày. Những người tiên phong trong quản trị chất lượng toàn diện (TQM) như là Deming, Juran, Crosby và Feigenbaum đã nhấn mạnh tầm quan trọng của triết lý chất lượng như là một vũ khí cạnh tranh thiết yếu để biến đổi một tổ chức. Một số nhà nghiên cứu định nghĩa quản trị chất lượng (QM) là một tập hợp các hoạt động quản trị có định hướng và liên tục để kiểm soát chất lượng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và kết quả hoạt động.
Trong khi đó, các học giả nghiên cứu xác định mối quan hệ giữa thực hành quản trị chất lượng và kiêm tra hiệu quả của các thực hành này lên kết quả hoạt động, nhưng các kết quả đưa ra lại không đồng nhất và có sự mẫu thuẫn giữa các học giả. Những kết quả này cho thấy rằng có mối quan hệ tích cực giữa các thực hành quản trị chất lượng, kết quả chất lượng và kết quả hoạt động của tô chức. Trong đó, các khía cạnh của kết quả chất lượng được đặc trưng bởi các yếu tố: kết quả sản phẩm, độ tin cậy, độ bên, tinh năng sản phẩm.và kết quả hoạt động được thể hiện qua các yếu tố: chất lượng, chỉ phí sản xuất, giao hàng đúng hạn, tính linh hoạt. Nhìn chung, phần lớn các lý thuyết nhấn mạnh tác động tích cực của thực hành quản trị chất lượng lên kết quả (Zu, 2009; Kaynak, 2003; Ahire, Golhar và Waller, 1996; Kaynak va Hartley, 2005; Sila và Ebrahimpour, 2005; Anderson Rungtusanatham, Schroeder va Devaraj, 1995; Flynn, Schroeder va Sakakibara, 1995; Prajogo va Sohal, 2003;2006; Choi và Eboch, 1998), nhưng một số khác lại không tìm ra được mối liên hệ giữa thực hành quản trị chất lượng, TQM và kết quả (Nair, 2006; Agus, 2003).
Do vậy, quản trị chất lượng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sản lượng và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Ngày nay, quản trị chất lượng, bắt chấp những tranh cãi, vẫn đang được áp dụng rộng rãi và là một trong những chủ đề nghiên cứu quan trọng nhất trong cả lĩnh vực học thuật và chuyên sâu (Dean và Bowen, 1994; Choi và Eboch, 1998; Flynn và cộng sự, 1995). Trong phần này, bài luận văn sẽ đi sâu làm rõ nội hàm của quản trị chất lượng bằng việc mô tả các thực hành quản trị chất lượng. Thực hành quản trị chất lượng Flynn và cộng sự (1994 và 1995) đã phân loại các hoạt động quản trị chất lượng thành hai hạng mục lớn: Thực hành nền tảng và thực hành cốt lõi.
Thực hành nền tảng là những khía cạnh phi cơ học, có liên quan đến con người, chiến lược của quản trị chất lượng, như sự hỗ trợ từ lãnh đạo cấp cao, lập kế hoạch chiến lược, quản trị lực lượng lao động. Thực hành cốt lõi xem xét trên các khía cạnh cơ học, có liên quan đến quá trình, kỹ thuật của quản trị chất lượng, chẳng hạn như quản trị quá trình, kiểm soát quá trình bằng thống kê và quá trình thiết kế sản phẩm. Việc mô tả của các thực hành này có thể được tóm tắt như sau: 10 "Thực hành quản trị chất lượng a Thực hành nền tảng Thực hành cốt lõi - Sự hỗ trợ từ lãnh đạo cấp cao - Kiểm soát quá trình - Lập kế hoạch chiến lược - Giải quyết vấn đề theo nhóm - Phân tích thông tin chất lượng nhỏ Bảo trì pho ` TẤU li Ấn sa nhẢ - Bảotrì phòng ngừa - Sáng kiên cải tiên của nhân Phong ng viên - Sạch sẽ và tổ chức - Dao tạo nghiệp vụ liên quan cho nhân viên - Sự tham gia của khách hang ~ Sự tham gia vào chất lượng từ nhà cung ứng Hình 1. Các thực hành quản trị chất lượng 1.
Sự hỗ trợ từ lãnh đạo cấp cao Rất nhiều học giả nghiên cứu TQM như là Deming (1986), Crosby (1980), Oakland (1993), Kanji và Baker (1990) và Feigenbaum (1986) đã chỉ ra vai trò quan trọng của lãnh đạo cấp cao trong việc thực hiện TQM. Sự hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao là một yêu cầu thiết yếu để quản trị chất lượng hiệu quả bởi vì nó khuyến khích các thực hành và hành vi hướng đến kết quả chất lượng trong toàn bộ tổ chức. Lãnh đạo cấp cao phải chịu trách nhiệm về chất lượng đồng thời phải thể hiện một tỉnh thần lãnh đạo hướng tới chất lượng một cách chủ động bằng cách khởi tạo và truyền đạt tầm nhìn hướng tới cải én chất lượng, đóng góp sự lãnh đạo cá nhân cho. các sản phẩm chất lượng và c: n chất lượng.
Lãnh đạo cấp cao nên khuyến khích mạnh mẽ sự tham gia của nhân viên trong quá trình sản xuất và cá nhân liên quan đến các hoạt động cải tiến chất lượng. Hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao sẽ có tác động lại tích cực đến tất cả các khía cạnh của quản trị chất lượng bao gồm quản trị nguồn nhân lực, phân tích thông tin, quan hệ khách hàng và mối quan hệ nhà cung cấp,v. Như vậy, có thể nói vai trò của lãnh đạo cấp cao là nhân tố quan trong nhất cho sự thành công của việc thực hiện quản trị chất lượng. Lập kế hoạch chiến lược Khi một tổ chức lựa chọn lấy chất lượng làm lợi thế cạnh tranh dé tạo ra sự khác biệt, chất lượng sẽ trở thành vấn đề trung tâm trong kế hoạch chiến lược.
Điều này đặc biệt được thể hiện trong tầm nhìn, sứ mệnh và các chính sách của tổ chức. Một ý tưởng quan trọng đằng sau kế hoạch chất lượng chiến lược là giá trị đem lại cho khách hàng, hơn là giá trị sản phẩm hay dịch vụ mang tính vật lý. Điều này sẽ không thể đạt được trừ phi tô chức tạo ra một văn hóa của chất lượng, và mọi chiến lược, kế hoạch sẽ không thể thành công nếu như không được chuẩn bị một cách kĩ lưỡng. Việc lập kế hoạch chiến lược tích hợp dài hạn cung cấp các định hướng cho các thực hành cải tiến chất lượng.
Nhà máy sản xuất cần phải xác định và văn bản hóa tầm nhìn, kế hoạch dài hạn, chính sách chất lượng, và mục tiêu chất lượng. Kế hoạch này cần được thông dịch, truyền tải rõ rằng đến nhân viên, đồng thời cần được xem xét và cập nhật định kỳ. Giải quyết vẫn đề theo nhóm nhỏ Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các công ty của Nhật Bản không thể cạnh tranh nổi trên thị trường quốc tế, bởi vì cho dù các sản phẩm của họ có giá thành rẻ nhưng lại bị đánh giá là chất lượng kém. Tuy nhiên, ngày nay các sản phẩm của Nhật Bản thường được biết đến là sản phẩm có chất lượng tốt và độ tin cậy cao.
Sự thành công này được đóng góp rất nhiều bởi sáng kiến tổ chức Nhóm kiểm soát chất lượng (Quality Control Circle - QCC), do các kỹ sư Nhat Bản xây dựng dựa trên những lý thuyết của các học giả đến từ Hoa Ky như: Lý thuyết Quản trị chất lượng thống kê của tiền sĩ Deming (1950), hay lý thuyết Quản tri và kiểm soát chất lượng của tiến sĩ Juran (1954). Nhóm kiểm soát chất lượng được xây dựng dựa trên hoạt động của các nhóm nhỏ với mục tiêu thúc day các khả năng của nhân viên lên mức cao nhất và nhằm tạo ra một môi trường làm việc mang tính tập thể, mà ở đó mọi 12 người gắn kết với nhau vì mục tiêu của tổ chức và sự hài lòng của khách hàng. Ngoài ra, nhóm kiểm soát chất lượng tạo cơ hội cho các thành viên phát triển cách thức tư duy sáng tạo, tìm kiếm những giải pháp tốt hơn trong công việc, nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Nhóm chất lượng thông thường bao gồm từ ba đến mười thành viên, làm việc trong cùng một đơn vị sản xuất và cùng dưới sự giám sát của một quản đốc.
Duy trì nhóm nhỏ cho phép các thành viên có nhiều cơ hội hơn đề tham gia các hoạt động trong nhóm. Như trong các cuộc họp, mỗi thành viên đều có cơ hội để đóng góp ý tưởng của mình; trong khi đó, nếu như nhóm mà trên mười thành viên thì sẽ có những thành viên không đóng góp được ý kiến do không đủ thời gian bởi vì thông thường họp nhóm chỉ được diễn ra không quá một giờ. Ngoài ra, nhóm nhỏ sẽ cho phép các thành viên có nhiều cơ hội để thúc day mối quan hệ cũng như tăng cường sự gắn kết giữa các thành viên. Mỗi thành viên có thể xác định được rõ vai trò và nhiệm vụ của mình, cảm thấy an toàn hơn trong mối quan hệ công việc và thấy được sự quan trọng của mình ở trong nhóm, từ đó lòng tự trọng cũng được phát triển lên.
Nếu như nhóm có số lượng thành viên nhỏ hon ba, thông thường sẽ khó có thé giải quyết được vấn đề, trong khi đó với số lượng nhiều hơn mười sẽ trở nên khó sử dụng.