Mở đầu (2 trang) Chương 2: Tổng quan (18 trang) Chương 3: Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu (18 trang) Chương 4: Kết quả và bàn luận (27 trang) Chương 5: Kết luận và kiến nghị (1 trang) 2 CHƯƠNG 2. Tổng quan về cây ổi 2. Đặc điểm và phân loại 2. Đặc điểm Cây ổi rừng có tên khoa học là Psidium guajava L., thuộc họ Myrtaceae.
Ổi đã được trồng rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như Ấn Độ, Indonesia, Pakistan, Bangladesh và Nam Mỹ (Kumar và cộng sự, 2021). Hiện nay, ổi có khoảng 100 giống được trồng ở các khu vực nhiệt đới khác nhau. Quả ổi thuộc loại quả mọng, hình tròn đến hình quả lê, đường kính từ 3 đến 10 cm (một số giống có thể lên đến 12 cm). Nó có vỏ mỏng, màu xanh lục nhạt đến vàng khi trưởng thành ở một số loài, màu hồng đến đỏ ở một số loài khác, với nhiều hạt nhỏ cứng và mùi thơm đặc trưng.
Lá ổi có màu xanh hơi sẫm, khá dài và mọc đối nhau; hình dạng lá thay đổi từ hình elip đến hình mũi mác, dài 4 – 10 cm và rộng 2. Hoa ổi màu trắng, có năm cánh và nhiều nhị hoa (Rodríguez và cộng sự, 2010b; Liogier, 1994; Morton, 1987). Từ lâu, cây ổi đã được sử dụng như một loại thuốc truyền thống để điều trị một số bệnh nhờ các hoạt động sinh học như chống đái tháo đường (Oh và cộng sự, 2005), chất chống khô, kháng khuẩn (Jaiarj và cộng sự, 1999) và chống co thắt (Lozoya và cộng sự, 2002). Cây ổi là cây trồng rất có tiềm năng do có chứa nhiều các hợp chất chống oxy hóa như saponin, flavonoid, tannin, eugenol và triterpenoids (Guo và cộng sự, 2003).
Các bộ phận của cây ổi như rễ, lá, vỏ, thân và quả đã được sử dụng để chữa bệnh đau bụng, tiểu đường, tiêu chảy, và một số bệnh khác ở nhiều quốc gia (Kumar và cộng sự, 2021). Phân loại Hiện nay, tại Việt Nam, khá nhiều giống cây ổi được trồng. Một số giống được trồng phổ biến như ổi xá lỵ nghệ, ổi sẻ, ổi ruột hồng (da láng, da sần). Những năm gần đây còn xuất hiện thêm một số giống cây ổi mới không hạt như: ổi không hạt Đài Loan, ổi không hạt Thái Lan, ổi không hạt Mã Lai (Bàng, 2021).
Một số đặc điểm của các giống ổi được trồng phổ biến ở Việt Nam hiện nay (Bàng, 2021) Đặc điểm của giống Tên giống Mức phổ biến Ưu điểm Khuyết điểm Ổi xá lỵ nghệ Cây sinh trưởng Vỏ quả hơi sần và ruột Phổ biến mạnh, tỷ lệ đậu quả quả có hạt cứng (tỷ lệ và năng suất cao, 4 quả hình quả lê ổn thịt quả < 77%) định, thịt màu trắng giòn, hương thơm và vị ngon Ổi ruột hồng da láng Cây sinh trưởng mạnh, tỉ lệ đậu quả khá cao và năng suất Ruột quả có hạt cứng cao, quả hình quả lê (tỷ lệ thịt quả < 69%), Phổ biến ổn định, vỏ quả láng, vị quả đôi khi có vị thịt quả màu hồng chát. đỏ, khá giòn, hương thơm và vị khá ngon Ổi Đài Loan Cây sinh trưởng khá mạnh, tỷ lệ đậu quả khá cao và năng suất Ruột quả có hạt cứng cao, quả hình cầu ổn và số hạt/quả trung Khá phổ biến định, vỏ quả láng, bình (tỷ lệ thịt quả < thịt màu trắng, giòn, 74%) hương thơm và vị rất ngon Ổi sẻ Cây sinh trưởng khá mạnh, tỷ lệ đậu quả khá cao và năng suất Quả nhỏ (<100g/quả); Ít phổ biến cao, quả hình cầu – hạt to, nhiều và cứng, quả lê ổn định, thịt tỷ lệ thịt quả thấp quả màu đỏ, mùi rất thơm và vị ngọt 5 Ổi không hạt Thái Cây sinh trưởng Lan mạnh, quả thuôn dài khá ổn định, vỏ quả khá láng, thịt quả Tỷ lệ đậu quả biến màu trắng kem, động. Nếu chăm sóc Khá phổ biến chắc, giòn, hương tốt, năng suất có thể thơm trung bình, vị đạt khá chua ngọt và không hạt (tỷ lệ thịt quả cao > 90%) Ổi không hạt Mã Lai Cây sinh trưởng Tỷ lệ đậu quả không mạnh, thịt quả màu cao và năng suất trung trắng, giòn, giòn, vị Ít phổ biến bình, quả hình cầu hơi ngọt hơi chua và dẹt và lệch tâm, vỏ quả không hạt (tỷ lệ thịt sần, quả thơm khá quả cao > 90%) 2. Thành phần hóa học của lá ổi rừng Lá ổi rừng là một nguồn phong phú của các chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng có lợi cho sức khỏe (Liên Hương, 2018).
Đặc biệt là trong lá ổi rừng còn chứa rất nhiều các hợp chất có hoạt tính sinh học như quercetin, avicularin, apigenin, guaijaverin, kaempferol, hyperin, myricetin, acid gallic, catechin, epicatechin, acid chlorogenic, epigallocatechin gallate, and caffeic acid. Trong lá ổi rừng chứa 82.64% hàm lượng tro, 0.74% carbohydrate, 103 mg acid ascorbic và 1717 mg acid gallic đương lượng (GAE)/g tổng số hợp chất phenolic (Shabbir và cộng sự, 2020). Thành phần polysaccharide trong lá ổi rừng có chứa khoảng 9.13% acid uronic và 64.42% đường tổng số, trong đó 2.24% là đường khử (Luo và cộng sự, 2018). Lá ổi rừng được sử dụng như một nguồn thực phẩm mới và bền vững do giàu hàm lượng protein (9.73% hàm lượng protein tính theo trọng lượng khô), carbohydrate và chất xơ.
Bên cạnh đó, chúng còn rất giàu các chất khoáng như canxi, kali, lưu huỳnh, natri, sắt, bo, magie, 6 mangan và giàu các vitamin B và C. Theo báo cáo của Thomas và cộng sự (2017), hàm lượng của các khoáng chất như Ca, P, K, Fe và Mg lần lượt tương ứng là 1660, 360, 1602, 13.50 và 440 mg trên 100 g trọng lượng khô của lá ổi rừng (DW). Hàm lượng của vitamin B và C lần lượt là 103.80 mg trên 100 g trọng lượng của lá ổi rừng (Lintu và cộng sự, 2017). Ngoài các thành phần trên trong lá ổi rừng còn rất giàu các hợp chất phenolic, chúng đóng vai trò là các hợp chất hoạt tính sinh học quan trọng đối với cơ thể con người.
Có khoảng bảy mươi hai hợp chất phenolic khác nhau. Trong đó, quercetin là một hợp chất phenolic có hoạt tính sinh học chính trong lá ổi rừng. Ngoài ra, lá ổi rừng còn sự hiện diện của một số hợp chất có hoạt tính sinh học khác như acid gallic, rutin, chlorogenic acid, avicularin, isoquercitrin, quercitrin, acid caffeic, epigallocatechin gallate và kaempferol, catechin (2. Cấu trúc của một số hợp chất phenolic có mặt trong lá ổi rừng (Lintu và cộng sự, 2017) Flavonoid Flavonoid là một loại sản phẩm tự nhiên quan trọng, là một loại chất chuyển hóa thứ cấp thực vật có cấu trúc polyphenol, được tìm thấy rộng rãi trong trái cây, rau và một số đồ uống.
Chúng có tác dụng sinh hóa và chống oxy hóa khác nhau liên quan đến các bệnh khác nhau như ung thư, bệnh Alzheimer (AD), xơ vữa động mạch, v. 8 Flavonoid có liên quan đến tác dụng tăng cường sức khỏe và là một thành phần không thể thiếu trong nhiều ứng dụng dinh dưỡng, dược phẩm và mỹ phẩm. Điều này là do các đặc tính chống oxy hóa, chống viêm, chống đột biến và chống ung thư cùng với khả năng điều chỉnh các chức năng chính của enzyme tế bào. Chúng cũng được biết là chất ức chế mạnh đối với một số enzyme, chẳng hạn như xanthine oxidase (XO), cyclo-oxygenase (COX), lipoxygenase và phosphoinositide 3-kinase (Walker và cộng sự, 2000; Metodiewa và cộng sự, 1997; Hayashi và cộng sự, 1988).
Flavonoid có một số phân nhóm, bao gồm chalcone, flavones, flavonols và isoflavone. Các nhóm con này có các nguồn chính duy nhất. Cấu trúc khung cơ bản của flavonoid và các lớp của chúng (Panche và cộng sự, 2016) Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng flavonoid thể hiện các hoạt tính sinh học, bao gồm các hoạt động chống dị ứng, kháng virus, chống viêm và giãn mạch. Tuy nhiên, phần lớn hoạt động chống oxy hóa của flavonoid do khả năng làm giảm sự hình thành gốc tự do và loại bỏ các gốc tự do của chúng.
Ren và cộng sự (2003) đã đưa ra các cơ chế phân tử chính hoạt động trong các tình huống khác nhau. Trong việc ngăn chặn các chất gây ung 9 thư, họ đã đề cập rằng flavonoid tác động lên cytochrome P450 để ức chế hoạt động của một số isozyme P450 chịu trách nhiệm sản xuất một số chất gây ung thư. Mặt khác, một cơ chế hoạt động khác mà họ báo cáo là flavonoid giúp sản xuất các enzyme chuyển hóa như gluthione-S-transferase, quinone reductase và uridine 5-diphospho-glucuronyl transferase, nhờ đó các chất gây ung thư được giải độc và do đó loại bỏ khỏi cơ thể. Điều này cũng sẽ giúp ngăn ngừa tác dụng hóa trị của flavonoid chống lại các chất gây ung thư (Ren và cộng sự, 2003).
Polyphenol Thực phẩm có nguồn gốc thực vật chứa polyphenol tự nhiên, những hợp chất này có nhiều loại cấu trúc phức tạp. Các monome cơ bản trong polyphenol là vòng phenolic và được phân loại gồm phenolic acid và phenolic alcohol. Tùy thuộc vào độ bền của vòng phenolic, polyphenol có thể được phân loại thành nhiều lớp, nhưng các lớp chính trong polyphenol là phenolic acid, flavonoid, stiblin, phenolic alcohol và lignan. Polyphenol là một nhóm các hợp chất hoạt tính sinh học trong thực phẩm có nguồn gốc thực vật (Dragovic-Uzelac và cộng sự, 2007).
Những hợp chất này có trong chế độ ăn uống của con người và có nguồn gốc từ thực vật như trái cây, rau, ngũ cốc và cà phê. Polyphenol cũng được biết đến như một chất ngăn ngừa các bệnh thoái hóa. Các cuộc điều tra về polyphenol bị trì hoãn do đặc tính đặc biệt, cấu trúc phức tạp của chúng. Những điều này cản trở sự thay đổi oxy hóa trong lipoprotein tỷ trọng thấp và đây là cơ chế cơ bản gây ra các tổn thương nội mô diễn ra ở bệnh xơ vữa động mạch.
Các công trình nghiên cứu đã cho thấy vai trò của polyphenol trong việc khắc phục bệnh tim mạch, loãng xương, bệnh thoái hóa thần kinh, ung thư và đái tháo đường (D'Archivio và cộng sự, 2007; Scalbert và cộng sự, 2005; Marrugat và cộng sự, 2004). Cấu trúc hóa học của một số hợp chất phenolic thường thấy trong trái cây và cà phê (Scalbert và cộng sự, 2005) Tannin Hinh 2. Cấu trúc hóa học của tannic acid Tanin là một chất chống oxy hóa phenolic phân bố rộng rãi, có trong các loại vỏ cây, lá, trái cây và rau quả khác nhau và đã được ghi nhận là có khả năng chữa bệnh (Halkes và cộng sự, 2001). Tannic acid là một trong những phân tử có hoạt tính chống oxy hóa mạnh.
Tannic acid có tính kỵ nước ‘lõi’ trung tâm chứa glucose và ‘vỏ’ ưa nước là đặc điểm cấu trúc của phân tử, chịu trách nhiệm về đặc tính chống oxy hóa của tannic acid. Tannin được phân thành hai lớp.