Đặt vấn đề Hợp chất có hoạt tính sinh học là một loại hợp chất được tìm thấy một lượng nhỏ trong thực vật và một số loại thực phẩm (Akanksha và cộng sự, 2022). Các hợp chất này mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe con người. Nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học được tìm thấy trong những thực phẩm mà chúng ta tiêu thụ như: ngũ cốc, các loại đậu, dầu ô liu, rau, trái cây, trà… Các nhà nghiên cứu đã xác định được nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học cao từ cây cỏ như quinin trong vỏ cây canh kina để điều trị sốt rét, cafein từ lá chè, hạt cà phê giúp kích thích hệ thần kinh. Vitamin C từ quả chanh, cam giúp phòng và điều trị bệnh chảy máu dưới da của các thủy thủ đi biển lâu ngày (Aleksandra Kizhina và cộng sự, 2022).
Trong những năm gần đây, các hợp chất có hoạt tính học học từ thiên nhiên được sử dụng rộng rãi và phổ biến. Chúng được sản xuất dưới dạng thực phẩm chức năng, thực phẩm thuốc, bổ sung dinh dưỡng có tác dụng nâng cao sức khỏe cho con người, chống oxy hóa, tăng cường hệ miễn dịch, giúp phòng và hỗ trợ điều trị một số loại bệnh. Theo nhiều nghiên cứu, lá ổi cũng chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học có lợi cho sức khỏe bao gồm các polysaccharide, protein, polyphenol, vitamin và khoáng chất. Chúng có tác dụng phòng chống các loại bệnh như: đái tháo đường, tim mạch, chống viêm, chống ung thư, chống tiêu chảy, kháng khuẩn… (Dewi và cộng sự, 2021).
Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, bên cạnh đó nhu cầu về ăn uống của con người cũng ngày một tăng. Xu hướng của người tiêu dùng thực phẩm hiện nay là sản phẩm phải ngon, chất lượng, giá cả hợp lí, bên cạnh đó còn phải có tác dụng tích cực đối với sức khoẻ họ. Chính vì vậy, việc bổ sung thêm các hợp chất từ nguyên liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên có lợi cho sức khoẻ vào thực phẩm là vô cùng cần thiết. Các hợp chất sinh học này ngoài có tác dụng bảo quản thực phẩm sử dụng được lâu hơn mà còn các tác động tích cực đối với sức khoẻ con người.
Do đó cần phải có phương pháp trích ly với điều kiện tối ưu nhất, ít tốn kém chi phí nhất để có thể thu được các hợp chất sinh học như mong muốn. Trong và ngoài nước hiện nay có nhiều nghiên cứu về các hợp chất có hoạt tính sinh học từ nguyên liệu trong tự nhiên cũng như phương pháp trích ly. Trong một nghiên cứu của Venâncio Alves Amaral và cộng sự (2020) về các hợp chất phenolic từ lá ổi Psidium guajava (Linn.): Ảnh hưởng của phương pháp hỗ trợ chiết xuất đối với tổng hàm lượng phenolic và hoạt động chống oxy hóa đã cho thấy các hợp chất phenolic trích ly từ lá ổi có khả năng chống oxy hóa. Theo nghiên cứu về tối ưu hóa chiết polyphenol từ 1 lá ổi bằng phương pháp bề mặt đáp ứng của Hồ Bá Vương và cộng sự (2015) chỉ ra rằng lá ổi như những nguồn chiết xuất các chất chống oxy hóa tự nhiên.
Thông qua đề tài “Tối ưu hóa các hợp chất có khả năng kháng oxy hóa và ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột từ lá ổi rừng” xác định được thông số tối ưu của quá trình trích ly polyphenol từ lá ổi rừng băng phương pháp Soxhlet và phương pháp áp suất cao. Nghiên cứu này nhằm xét xem phương pháp trích ly nào có hiệu suất và hiệu quả kinh tế nhất và tối ưu chúng để thu được lượng chất có hoạt tính sinh học cao nhất. Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu của đề tài nhằm mục tiêu xác định điều kiện tối ưu để chiết xuất các hợp chất có hoạt tính kháng oxy hoá và ức chế enzyme tiêu hoá tinh bột từ lá ổi rừng bằng phương pháp Soxhlet và áp suất cao.Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu về các hợp chất có khả năng kháng oxy hóa và ức chế enzyme tiêu hóa từ lá ổi rừng. Giới hạn về nội dung nghiên cứu: đề tài đi sâu nghiên cứu về phương pháp trích ly và tối ưu điều kiện chiết để thu được các hợp chất có khả năng kháng oxy hóa và ức chế enzyme tiêu hóa từ lá ổi rừng.
Nội dung nghiên cứu Khảo sát ảnh hưởng của thông số công nghệ đến hiệu suất trích ly các hợp chất polyphenol. Tối ưu hóa điều kiên chiết xuất các hợp chất có khả năng kháng oxy hóa và ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột từ lá ổi rừng. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Đề tài “Tối ưu hóa các hợp chất có khả năng kháng oxy hóa và ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột từ lá ổi rừng” góp phần nghiên cứu về các hợp chất có lợi cho sức khỏe con người và tạo tiền đề cho các nghiên cứu in vivo sau này.
Ý nghĩa thực tiễn 2 Từ đề tài “Tối ưu hóa các hợp chất có khả năng kháng oxy hóa và ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột từ lá ổi rừng” có thể tiến hành trích ly các hợp chất có khả năng kháng oxy hóa và ức chế enzyme tiêu hóa ở mức cao nhất và lựa chọn được phương pháp phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế nhất. Bố cục của báo cáo Bài báo cáo bao gồm 5 chương: Chương 1: Mở đầu Chương 2: Tổng quan Chương 3: Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả và bàn luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 3 CHƯƠNG 2. Giới thiệu về ổi Ổi có tên khoa học là Psidium guajava L thuộc: Lớp: Magnoliopsida Phân lớp: Rosidae Bộ: Myrtales Họ: Myrtaceae Phân họ: Myrtoideae Chi: Psidium L. (Rai và cộng sự, 2009) Ổi là một loại trái cây nhiệt đới, được tiêu thụ rộng rãi ở dạng tươi hoặc chế biến và khẳng định được tính ưu việt so với các loại trái cây khác nhờ giá trị dinh dưỡng của nó.
Đây là một loại trái cây có năng suất cao, mang lại lợi nhuận kinh tế cao mà không cần chăm sóc nhiều. Ngoài ra, các bộ phận của cây ổi như búp non, lá non, vỏ rễ và vỏ thân còn được dùng làm thuốc (Irshad và cộng sự, 2020). Nguồn gốc Ổi (Psidium guajava L.) thuộc họ cây lá hai mầm Myrtaceae, chi Psidium. Chi Psidium có khoảng 150 loài, trong đó có 5 loài chính: Psidium guianense, Psidium cowianum, Psidium chinense, Psidium Friedrichsthalianum và Psidium guajava.
Trong đó, ổi thuộc loài Psidium guajava được trồng phổ biến nhất. Một số giống ổi được trồng và đặt tên theo vị trí mà chúng được trồng (Adsule và Kadam, 1995). Psidium guajava được coi là loài bản địa ở Mexico, sau đó lan rộng ra khắp Nam Mỹ, châu Âu, châu Phi và châu Á (Rosa và cộng sự, 2008). Đầu thế kỷ 17, người Bồ Đào Nha đã mang ổi đến Ấn Độ và lan rộng khắp các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á.
Người ta tin rằng hầu hết các cuộc du nhập ổi vào Ấn Độ lần đầu tiên được thực hiện tại Basti ở Uttar Pradesh. Hiện nay, nó phát triển ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới, thích nghi với các điều kiện khác nhau (Abin và cộng sự, 2011). Do nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm tươi và chế biến, việc trồng ổi trở nên phổ biến và có thị trường lớn tại hơn 60 quốc gia. Ấn Độ là quốc gia sản xuất ổi lớn nhất thế 4 giới, sau đó là Trung Quốc, Kenya, Thái Lan, Indonesia, Pakistan, Mexico, Brazil, Bangladesh, Nigera, Philippines, Việt Nam và Ai Cập (Gill, 2016).
Cây ổi (Psidium guajava L. Đặc điểm sinh thái Ổi là cây gỗ nhỏ hay cây bụi, cao 2-8 m, phân cành rộng. Thân cây thường có dạng đốm, với lớp vỏ vảy bên ngoài màu nâu đỏ. Rễ cây ổi thuộc loại rễ cọc.
Lá cây ổi hình bầu dục hoặc thuôn dài, dài 7-15 cm, có gân nổi rõ, mặt dưới thường có lông. Hoa to, lưỡng tính, mọc từng chùm 2, 3 chiếc, ít khi ở đầu cành mà thường ở nách lá. Những bông hoa với đài hoa màu xanh lục hình chuông phân chia không đều. Hoa ổi có sáu cánh hoa màu trắng và nhiều nhị hoa với bao phấn màu vàng.
Hoa thụ phấn chéo dễ dàng nhưng cũng có thể tự thụ phấn (Adsule và Kadam, 1995). Cây, lá và hoa ổi Quả ổi thuộc loại quả mọng. Quả bao gồm một lớp thịt và nhiều hạt nhỏ nằm trong lòng thịt quả. Hạt cứng, hình đa giác.
Các giống không hạt chứa rất ít hạt. Quả ổi chủ yếu có hình 5 tròn. Một số giống có hình trứng hoặc hình quả lê. Quả trưởng thành hoàn toàn có chiều dài 4- 10 cm và đường kính 4-8 cm (Singh, 1988).
Trọng lượng trung bình của quả thay đổi từ 50 - 500 g. Màu của quả trưởng thành thường là màu vàng. Màu thịt bình thường là trắng hoặc kem. Trong một số giống, nó có màu hồng.
Quả ổi thường giòn, thơm và ngọt. Quả chín thì mềm hơn nhưng vẫn thơm, ngọt (Adsule và Kadam, 1995). Quả ổi Ổi phát triển tốt ở hầu hết các vùng khí hậu ở nhiệt đới và cận nhiệt đới. Mặc dù là loại cây cứng cáp, không bị ảnh hưởng nhiều bởi các đợt lạnh hay nhiệt độ khắc nghiệt, nhưng nó không chịu được sương giá.
Nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển nằm trong khoảng từ 23 - 28°C (Samson, 1980). Ổi có thể trồng trên nhiều loại đất. Tuy nhiên, đất thịt nhẹ, thoát nước tốt là thích hợp nhất để trồng ổi (Adsule và Kadam, 1995). Ngoài ra, nó còn phù hợp với đất có độ chua thấp và hàm lượng nitơ, phốt pho và kali thấp là những yếu tố hạn chế chính đối với sản xuất cây trồng (Renato và cộng sự, 2017).
Phân loại Dựa vào màu sắc của ruột ổi, người ta chia giống ổi thành 2 loại phổ biến: ổi ruột đỏ (P. Pomifera) và ổi ruột trắng (P. Ổi ruột đỏ và ổi ruột trắng 6 Qua quá trình trồng trọt và chọn lọc giống, hiện nay các giống ổi cũng rất đa dạng, phong phú. Việt Nam hiện có nhiều giống ổi khác nhau, do đó về năng suất, chất lượng (độ giòn, độ ngọt, mức độ ngon) không giống nhau.
Ngoài giống ổi thường phổ biến khắp thế giới, còn có những giống ổi khác phổ biến như: ổi tím Malaysia, ổi nữ hoàng, ổi lê, ổi Ruby ruột đỏ, ổi sẻ, ổi ruột đỏ, ổi sim nhật, ổi đuôi phụng… Hình 2. Lá của các giống ổi 2. Thành phần hóa học của lá ổi 2.