Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 6 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 7 Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về phong cách lãnh đạo 2.1 Khái niệm về lãnh đạo và phong cách lãnh đạo 2. Khái niệm lãnh đạo Chủ đề lãnh đạo là chủ đề được nghiên cứu nhiều với các cách tiếp cận khác nhau nhưng đều có quan điểm chung khi cho rằng lãnh đạo là gây ảnh hưởng đến người khác.
Hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định lãnh đạo là gây ảnh hưởng của người đứng đầu hoặc cấp trung gian đến cấp dưới (cá nhân người lao động hoặc một nhóm, tổ chức) để đạt được mục tiêu. Theo Hemphill & Coons (1957) cho rằng lãnh đạo là hành vi một cá nhân tác động lên những hoạt động của nhóm thông qua việc chia sẻ mục tiêu. Còn theo quan điểm của Hart (1980), “lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng của một hay nhiều người, theo cách tích cực để xác định nhiệm vụ thực hiện trên nền tảng mục đích của tổ chức”. Cùng với quan điểm đó, Hersey và Blanchard (1982) cho rằng: “Lãnh đạo là một quá trình ảnh hưởng các hoạt động của một cá nhân hay một nhóm người trong nỗ lực nhằm đạt được mục tiêu và trong một hoàn cảnh thực tế cụ thể”.
Lãnh đạo là sự ảnh hưởng giữa những người lãnh đạo và người chịu lãnh đạo nhằm thực hiện những thay đổi hiện tại, nhằm đạt được mục tiêu của họ (Rost,1993). Bass (1985) bổ sung thêm khi cho rằng lãnh đạo là việc biến đổi người thuộc quyền tạo ra những viễn cảnh của mục tiêu một cách khả thi và chỉ dẫn, giúp đỡ họ đạt được mục tiêu ấy. Như vậy Bass chỉ ra cụ thể quá trình gây ảnh hưởng đến nhân viên bằng chỉ rõ tầm nhìn và hướng dẫn, hỗ trợ nhân viên đạt được tầm nhìn. Robbins (2003) cũng chỉ ra rằng “lãnh đạo là khả năng gây ảnh hưởng lên một nhóm người nhằm hướng đến việc đạt được mục tiêu chung”.
Quan điểm này nhất quán với quan điểm của Northouse (2010) khi đưa ra khái niệm lãnh đạo là một quá trình, qua đó một cá nhân ảnh hưởng đến một nhóm người khác nhằm đạt được mục tiêu chung. Lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng đến người khác để họ hiểu và đồng ý về những công việc cần thực hiện và cách thực hiện công việc đó một cách hiệu quả, 8 là quá trình tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân và tập thể nỗ lực đạt được mục tiêu của tổ chức (Yukl, 2002). Lãnh đạo là khả năng thấm nhuần lòng tin và hỗ trợ cấp dưới đạt được mục tiêu của các tổ chức (Dubrin, Dalglish & Miller, 2006). Có thể thấy các quan điểm về lãnh đạo của các nhà khoa học đều cho rằng nội hàm của lãnh đạo gồm các đặc điểm sau: - Gây ảnh hưởng - Chủ thể gây ảnh hưởng là nhà lãnh đạo và gây ảnh hưởng đến cá nhân hoặc một nhóm là người lao động, nhân viên trong một tổ chức.
- Mục đích là khiến nhân viên tự nguyện thực hiện công việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Từ các tổng hợp trên, lãnh đạo theo cách tiếp cận của nhóm tác giả là quá trình gây ảnh hưởng lên cá nhân hoặc tập thể để họ tự nguyện, tích cực thực hiện công việc, qua đó đạt được mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp. Khái niệm phong cách lãnh đạo Theo Stogdill (1948), phong cách lãnh đạo “là một loại cách thức và khả năng nhằm thực hiện các mục tiêu của tổ chức và tiếp tục ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động của tổ chức”. Phong cách lãnh đạo đề cập đến mối quan hệ, trong đó một người sử dụng quyền và phương pháp của mình để làm cho nhiều người làm việc cùng nhau và cùng vì một công việc chung (Fiedler,1969).
Burns (1978) có quan điểm rằng phong cách lãnh đạo là cách thức đạt được mục tiêu của tổ chức thông qua mối quan hệ giữa động lực của người lãnh đạo và động lực của nhân viên bên dưới nhằm thúc đẩy sự nỗ lực tự nguyện của nhân viên. Theo Burns, một khi nhà lãnh đạo chú ý đến việc đáp ứng các nhu cầu tinh thần ở tầng cao hơn của nhân viên sẽ khiến cho những nhân viên có những nỗ lực hết khả năng của họ để đạt được những kết quả vượt qua sự mong đợi của tổ chức. Segal (1981) lại có quan điểm “phong cách lãnh đạo thuộc về những quan hệ của những cá nhân với nhau trong tổ chức, trong đó một vài cá nhân thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ, hướng dẫn nhóm hướng đến việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức”. Cùng quan điểm đó, Hersey và Blanchard (1982) có cho rằng “phong cách lãnh đạo là một phương pháp ảnh hưởng các hoạt động của một cá nhân hay một nhóm 9 người trong nỗ lực nhằm đạt được mục tiêu và trong một hoàn cảnh thực tế cụ thể”.
Cũng có quan điểm cho rằng phong cách lãnh đạo là cá tính, thói quen biểu hiện ra bên ngoài thống nhất với bản chất bên trong thông qua tư tưởng, ý thức, đạo đức lối sống. (Milind Sathye, 2004) Bass và các cộng sự (1985) đã cho rằng người lãnh đạo có phong cách lãnh đạo hiệu quả phải là người có đạo đức và phẩm chất đủ để nhân viên tin tưởng và ngưỡng mộ, người lãnh đạo phải trở thành hình mẫu trong phẩm chất và hành vi để hấp dẫn nhân viên. Sự làm gương của người lãnh đạo thông qua giá trị đạo đức, sự tâm huyết và quan tâm đến lợi ích của tổ chức và nhân viên sẽ làm cho nhân viên khiên nhân viên tôn trọng, tin cậy và trung thành với tổ chức. Bên cạnh đó, Bass cũng cho rằng, nhà lãnh đạo gây ảnh hưởng đến nhân viên bằng truyền cảm hứng và động lực thông qua truyền đạt tầm nhìn và mục tiêu hấp dẫn, qua đó hướng dẫn, kích thích sự sáng tạo và trao quyền của nhân viên, giúp họ đủ năng lực và tự nguyện nỗ lực thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Quan điểm của Bass cũng được nhiều học giả ủng hộ, Conger và Kangugo (1987) cho rằng phòng cách lãnh đạo là cách thức tạo sự ảnh hưởng của người lãnh đạo đến nhân viên bên dưới. Theo Conger và Kanungo, những người lãnh đạo có những phẩm chất đặc biệt gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến những nhân viên bên dưới chứ họ không cần phải dùng đến những sức mạnh quyền lực từ vị trí của họ mang lại. Những phẩm chất đặc biệt được nêu ra bởi Conger và Kanugo gồm: khả năng tạo lập và truyền đạt một tầm nhìn hấp dẫn từ việc tiến hành những thay đổi sâu sắc đối với trạng thái hiện tại của tổ chức; sẵn sàng chấp nhận rủi ro và hy sinh quyền lợi của bản thân người lãnh đạo để theo đuổi tầm nhìn; tự tin về chuyên môn và có khả năng thuyết phục nhân viên cùng theo đuổi một tầm nhìn; quan tâm một cách tinh tế đến các nhu cầu của nhân viên; đưa ra những phương pháp mới trong giải quyết vấn đề. Thông qua những phẩm chất đặc biệt này, người lãnh đạo sẽ khiến cho những nhân viên dưới quyền tin tưởng, tôn trọng, ngưỡng mộ và trung thành với người lãnh đạo để từ đó những nhân viên này sẽ có những nỗ lực vượt xa sự kỳ vọng của tổ chức vào họ.
Pardey (2007) kết luận rằng “phong cách lãnh đạo là cách thức nhà lãnh đạo dẫn dắt mọi người thực hiện theo khả năng phù hợp của mình và phù hợp với hoàn cảnh của tổ chức”. Diễn giải cụ thể hơn, phong cách lãnh đạo là những phương pháp hoặc cách thức nhà lãnh đạo thường dùng để gây ảnh huởng đến đối tượng 10 lãnh đạo. Xét trên phương diện cá nhân, phong cách lãnh đạo chính là cách thức làm việc của nhà lãnh đạo (B. Phong cách lãnh đạo là phương thức và cách tiếp cận của một nhà lãnh đạo để đề ra các mục tiêu, thực hiện các kế hoạch và tạo động lực cho nhân viên để đạt được mục tiêu của tổ chức (Nel và cộng sự, 2006).
Phong cách lãnh đạo cũng có thể được hiểu là cách thức điển hình mà người quản lý thực hiện chức năng và đối xử với nhân viên của mình (Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương, 2013) Từ các quan điểm về phong cách lãnh đạo, cách tiếp cận của đề tài là: Phong cách lãnh đạo trong doanh nghiệp là cách thức nhà lãnh đạo tương tác và gây ảnh hưởng đến nhân viên nhằm tạo động lực để nhân viên tự nguyện nỗ lực thực hiện công việc nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Phong cách lãnh đạo trong doanh nghiệp Tổng quan nghiên cứu cho thấy các lý thuyết phong cách lãnh đạo trước đây khá đang dạng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau như phong cách lãnh đạo theo hành vi (Lewin & cộng sự, 1939; Robert Blake & Jane Mouton, 1964), theo đặc điểm (Stogdil, 1948; Digman, 1990), lãnh đạo bằng sự ảnh hưởng (French & Raven, 1959; Yukl, 1992), theo tình huống (Fieldler, 1986; House, 1996, Hersey & Blanchard, 2008), theo tính tương hỗ như phong cách lãnh đạo phục vụ (Greenleaf, 1977) và lãnh đạo dựa trên trí tuệ cảm xúc (Goleman, 2001). Các phong cách lãnh đạo đều có tác động nhất định đến kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao và hiệu quả tổ chức nhưng mang tính đơn lẻ và rời rạc. Bass & Avolio (2004) và Bass & Riggio (2006) cụ thể hóa rõ hơn tầm quan trọng của phong cách lãnh đạo theo hướng toàn diện khi chỉ ra rằng phong cách lãnh đạo toàn diện quyết định từ 45% đến 65% sự thành công của một tổ chức.
Phong cách lãnh đạo toàn diện (full range leadership) bao gồm phong cách lãnh đạo chuyển hóa, lãnh đạo giao dịch và lãnh đạo tự do (Bass & Avolio, 2004). Đây cũng là khung lý thuyết phong cách lãnh đạo mà đề tài tiếp cận. Burns (1978) đã nêu ra thuật ngữ lãnh đạo chuyển hóa trong nghiên cứu của mình để mô tả sự ảnh hưởng của lãnh đạo với nhân viên. Lãnh đạo chuyển hóa hướng tới việc nâng cao động viên nhân viên, thúc đẩy nhân viên gắn kết và nhiệt huyết hơn trong tổ chức.
Nghiên cứu khẳng định được tầm quan trọng của phong 11 cách lãnh đạo chuyển hóa đối với hoạt động của tổ chức trong giai đoạn chuyển hóa cơ cấu trong doanh nghiệp. Phong cách này giúp nhân viên phát huy tính sáng tạo và trí tuệ, hướng tới tầm nhìn và mục tiêu lớn hơn.