Chương 1 trình bày tóm lược một số nghiên cứu chính đã công bố trong nước cũng như trên thế giới mà liên quan đến đề tài nghiên cứu. Nội dung của các nghiên cứu này được tác giả trình bày tóm tắt lại thông qua phụ lục 1. Dựa vào hiểu biết về tình hình nghiên cứu hiện nay, tác giả phát hiện được khoảng trống nghiên cứu để làm căn cứ xác định tính cần thiết của đề tài. Đề tài nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá mức độ tác động của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán, làm căn cứ để đưa ra các biện pháp nhằm tăng cường chất lượng kiểm toán tại Việt Nam.
Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam tập trung nghiên cứu mức độ tác động của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán bằng phương pháp nghiên cứu định lượng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Báo cáo tài chính 2.1 Khái niệm Báo cáo tài chính là sản phẩm của kế toán tài chính, là kết quả đầu ra của hệ thống thông tin kế toán dùng để phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ kết quả các hoạt động của doanh nghiệp và tình hình tài chính của doanh nghiệp đó. Khái niệm về báo cáo tài chính được trình bày trong nhiều nghiên cứu và quy định trong và ngoài nước. Chuẩn mực kế toán quốc tế số 1- Trình bày các báo cáo tài chính đưa ra khái niệm “Báo cáo tài chính là các báo cáo dùng để đáp ứng nhu cầu cho những người sử dụng không có quyền yêu cầu đơn vị báo cáo cung cấp các thông tin cụ thể theo ý muốn riêng của họ” (IASB, 2012).
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 1 – Chuẩn mực chung thì “báo cáo tài chính phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của báo cáo tài chính. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toán là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là Doanh thu, thu nhập khác, Chi phí và Kết quả kinh doanh” (Bộ Tài chính, 2002). Khái niệm về báo cáo tài chính được trình bày rõ hơn trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 - Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, theo đó báo cáo tài chính “là sự trình bày một cách hệ thống về các thông tin tài chính quá khứ, bao gồm các thuyết minh có liên quan, với mục đích công bố thông tin về tình hình tài chính và các nghĩa vụ của đơn vị tại một thời điểm hoặc những thay đổi trong một thời kỳ, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính.
Các thuyết minh liên quan thông thường là phần tóm tắt các chính sách kế toán quan trọng và các thông tin diễn giải khác. Thuật ngữ “báo cáo tài chính” thường có nghĩa là một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 bộ báo cáo tài chính (đầy đủ) theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng. Thuật ngữ “báo cáo tài chính riêng lẻ” được sử dụng để chỉ một báo cáo trong bộ báo cáo tài chính (đầy đủ)” (Bộ Tài chính, 2012). Như vậy, khái niệm về báo cáo tài chính được trình bày trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 là tương đối rõ ràng và bao quát, do đó tác giả sử dụng làm khái niệm chính trong nghiên cứu này.2 Mục đích Theo khung lý thuyết đối với báo cáo tài chính quốc tế (IFRS Framework) thì mục đích của báo cáo tài chính là “cung cấp các thông tin tài chính hữu ích của đơn vị được báo cáo cho các nhà đầu tư, những người cho vay, các chủ nợ hiện hữu hay tiềm năng trong việc ra quyết định cung cấp các nguồn tài trợ cho đơn vị.
Các quyết định này bao gồm mua, bán hoặc nắm giữ các khoản nợ hoặc khoản vốn, hay là chấp nhận chính sách bán hàng trả chậm và các hình thức cấp tín dụng khác” (IASB, 2010). Chuẩn mực kế toán quốc tế số 1 – Trình bày báo cáo tài chính cho rằng mục đích của báo cáo tài chính là: “cung cấp thông tin về tình hình tài chính, hiệu quả tài chính và các dòng tiền của một đơn vị. Những thông tin này hữu ích với số đông người sử dụng trong việc ra các quyết định kinh tế. Các báo cáo tài chính còn thể hiện kết quả quản lý của nhà quản trị đối với những nguồn lực thuộc thẩm quyền được giao.
Để đạt mục đích này báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về: • Tài sản; • Nợ phải trả; • Vốn chủ sở hữu; • Thu nhập và chi phí, bao gồm các khoản lãi/lỗ; • Góp vốn và phân phối thu nhập của người chủ sở hữu; và • Các dòng tiền. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 Các thông tin này cùng với các thông tin khác trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính hỗ trợ người sử dụng các báo cáo tài chính này dự đoán được các luồng tiền trong tương lai và đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra chúng” Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 – Trình bày báo cáo tài chính trình bày mục đích của báo cáo tài chính là “cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Để đạt mục đích này báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về: • Tài sản; • Nợ phải trả; • Vốn chủ sở hữu; • Doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ; • Các luồng tiền. Các thông tin này cùng với các thông tin trình bày trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính giúp người sử dụng dự đoán được các luồng tiền trong tương lai và đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các luồng tiền và các khoản tương đương tiền.
Tóm lại, từ các quan điểm trên, ta có thể nhận ra được mục đích báo cáo tài chính chủ yếu là cung cấp thông tin tài chính hữu ích của đơn vị báo cáo cho số đông người sử dụng, đặc biệt là những người cần thông tin trong việc ra quyết định cung cấp nguồn lực tài chính cho đơn vị, thông qua việc trình bày tình hình tài chính, kết quả hoạt động trong kỳ, các luồng tiền và những thông tin cần chú ý của đơn vị.3 Kiểm toán báo cáo tài chính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 Theo luật kiểm toán độc lập thì: “Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán” (Quốc hội, 2011). Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 - Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, đưa ra mục đích của một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính “là làm tăng độ tin cậy của người sử dụng đối với báo cáo tài chính, thông qua việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không. Đối với hầu hết các khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính cho mục đích chung, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập và trình bày trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không. Một cuộc kiểm toán được thực hiện theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan sẽ giúp kiểm toán viên hình thành ý kiến kiểm toán đó” (Bộ Tài chính, 2012).
Có thể thấy, kiểm toán báo cáo tài chính là một hoạt động hết sức cần thiết trong nền kinh tế thị trường để tăng cường tính minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán. Cũng vì lẽ đó, việc đảm bảo chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính cũng là một yêu cầu cần được chú trọng.2 Chất lượng kiểm toán và phí kiểm toán 2.1 Chất lượng kiểm toán Chất lượng kiểm toán là một khái niệm phức tạp. Dưới những góc độ khác nhau, ta có những yêu cầu khác nhau về chất lượng kiểm toán. Người sử dụng, công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 20 ty kiểm toán, nhà làm luật và xã hội - những người có liên quan trong quá trình sử dụng báo cáo tài chính - có thể có quan điểm rất khác nhau về các yếu tố tạo nên chất lượng kiểm toán, điều này ảnh hưởng đến các loại chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng kiểm toán.
Những người sử dụng các báo cáo tài chính có thể tin rằng chất lượng kiểm toán cao có nghĩa là không có sai sót trọng yếu. Các kiểm toán viên tiến hành kiểm toán có thể xác định chất lượng kiểm toán cao đồng nghĩa với việc hoàn thành thỏa đáng tất cả các nhiệm vụ được giao và tuân thủ theo phương pháp kiểm toán do công ty kiểm toán quy định. Các công ty kiểm toán có thể đánh giá một cuộc kiểm toán có chất lượng cao là cuộc kiểm toán tránh được các rủi ro về thanh tra hoặc kiện tụng. Các nhà làm luật có thể xem một cuộc kiểm tra chất lượng cao là một cuộc kiểm toán được tiến hành phù hợp với các quy định của pháp luật và các tiêu chuẩn nghề nghiệp.
Cuối cùng, xã hội mong đợi một cuộc kiểm toán đạt chất lượng cao là một công cụ giúp các doanh nghiệp hoặc thậm chí là giúp cho thị trường tránh được các vấn đề rủi ro về kinh tế. Kết luận lại, ta thấy rằng đối với các quan điểm khác nhau, phương pháp đo lường chất lượng kiểm toán sẽ khác nhau.