Chương 1: Giới thiệu đề tài Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 pháp nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu, tổng quan về phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới. Trong chương này, tác giả sẽ trình bày ngắn gọn về cơ sở lý thuyết về phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, chi tiêu chính phủ và tiêu thụ năng lượng và các nghiên cứu trước đây liên quan đến các cặp biến: phát triển tài chính và tiêu thụ năng lượng, tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng, chi tiêu chính phủ và tiêu thụ năng lượng. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giải thích các biến độc lập, biến phụ thuộc và biến kiểm soát trong mô hình, mô tả các đặc điểm của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt ra để kiểm định và nguồn dữ liệu của nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trong chương này, tác giả sẽ trình bày các kết quả thực nghiệm. Chương 5: Kết luận Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp lại các vấn đề cần nghiên cứu, kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài, hướng mở rộng của đề tài và gợi ý các chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI 2.1 Tiêu thụ năng lượng Tiêu thụ năng lượng đóng một vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế ở bất cứ nước nào.
Là một trong những yếu tố quyết định hoạt động kinh tế vì nó ảnh hưởng đến cả số lượng và hiệu quả của nền kinh tế. Sự phát triển của các nền kinh tế mới nổi đòi hỏi nhiều nhu cầu năng lượng. Nó cải tiến hiệu quả và năng xuất và có một vai trò quan trọng đối với cá nhân và hộ gia đình. Tuy nhiên, trong các mô hình tăng trưởng tân cổ điển, năng lượng là chỉ đơn giản coi như một đầu vào trung gian sản xuất Tsani (2010).
Theo Bartleet và Gounder (2010), những người ủng hộ quan điểm này cho rằng có một số cơ chế theo đó tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể vẫn bất chấp một nguồn tài nguyên giới hạn năng lượng. Những lời giải thích tiềm ẩn này được xây dựng dựa trên khả năng thay đổi công nghệ và thay thế các đầu vào vật chất khác cho năng lượng để có thể sử dụng các nguồn năng lượng hiện hiệu quả, và để tạo ra nguồn năng lượng tái tạo không phải chịu ràng buộc hạn chế nguồn cung (Solow, 1974, 1997; Stiglitz, 1997). Theo đó, năng lượng chỉ đơn thuần là một trong những yếu tố đầu vào không cần thiết trong quá trình sản xuất. Nói cách khác, những người ủng hộ lý thuyết này hỗ trợ “giả thuyết trung lập” và “giả thuyết bảo tồn”.
Những giả thuyết ngụ ý rằng hạn chế nguồn cung cấp năng lượng có thể không có bất kỳ tác động có hại đối với tăng trưởng kinh tế. Như vậy, Chính phủ có thể đồng thời áp dụng các chính sách bảo tồn năng lượng và tăng trưởng kinh tế (Bartleet và Gounder, 2010). Trong khi đó, các lý thuyết kinh tế sinh thái nói rằng tiêu thụ năng lượng là một yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế hiện đại. Các nhà kinh tế sinh thái phán xét rằng tiến bộ công nghệ và đầu vào vật chất khác không thể nào thay thế vai trò quan trọng của năng lượng trong quá trình sản xuất (Stern, 1993, 2000).
Họ thậm chí xem xét năng lượng như là nguồn chính bởi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 vì các yếu tố khác của sản xuất như lao động và tư bản không thể thực hiện mà không cần năng lượng (Belloumi, 2009). Stern & Cleveland (2004) thấy rằng do trọng tâm chính của lý thuyết tăng trưởng truyền thống là lao động và yếu tố sản xuất tư bản lớn trong khi đó nó bỏ qua tầm quan trọng của năng lượng trong quá trình tăng trưởng. Vì thế trong nghiên cứu của mình Stern & Cleveland xem năng lượng là một yếu tố thiết yếu của sản xuất và do đó cho rằng năng lượng là cần thiết cho sự tăng trưởng, và tạo thành một quan hệ nhân quả chạy từ tiêu thụ năng lượng đến tăng trưởng kinh tế. Việc sử dụng năng lượng và đầu ra kết chặt chẽ với đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho tăng trưởng.
Nổi lên từ các cuộc tranh luận đó là các nghiên cứu của Ehrlich và Holdren (1971, 1974), Ehrlich và các đồng sự (1977), Ehrlich (1990) và Holdren (1991) về các tác động của con người lên môi trường. Theo Holdren (1991) các kết nối rõ ràng nhất giữa dân số, năng lượng, môi trường được xác định bằng quan hệ đại số. E = P x e (1) E: Tổng năng lượng sử dụng của một xã hội; P: Tổng sản phẩm quốc dân; Và e: năng lượng sử dụng bình quân đầu người. Việc đo lường tác động trên môi trường được quy định như sau: I = E x i (2) hoặc là I = P x e x i (3) I: Các tác động môi trường; Và việc sử dụng năng lượng của xã hội là kết quả của tổng số lần sử dụng năng lượng cho các yếu tố công nghệ, i, Phương trình (3) còn được gọi là phương trình I = PAT: Tác động của con người đối với môi trường I bằng: tổng sản phẩm quốc dân P, sự sung túc A, và công nghệ T.2 Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế được hiểu khá thống nhất là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian.
Thước đo phổ biến là mức tăng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một năm hoặc mức tăng GDP bình quân đầu người trong một năm. Một số nước sử dụng các chỉ số khác để xác định mức tăng trưởng kinh tế như: GNP (tổng sản phẩm quốc gia); GNI (tổng thu nhập quốc gia); NNP (sản phẩm quốc gia ròng) hoặc NNI (thu nhập quốc gia ròng). Trong luận văn này tác giả sử dụng GDP bình quân đầu người là đại lượng để đo lường tăng trưởng kinh tế. Ozturk và Acaravci (2010) phân loại quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế theo hướng dựa trên bốn giả thuyết quan trọng.
Đầu tiên được gọi là "giả thuyết bảo tồn". Giả thuyết này cho rằng tăng trưởng kinh tế gây ra tiêu thụ năng lượng. Một kết quả có lợi cho hướng quan hệ nhân quả này có thể ngụ ý rằng một quốc gia không phụ thuộc về năng lượng cho sự tăng trưởng kinh tế của mình. Như vậy, thực hiện chính sách bảo tồn năng lượng không có ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng.
Giả thuyết thứ hai được gọi là “giả thuyết tăng trưởng” và nó lập luận rằng mức tiêu thụ năng lượng gây ra sự tăng trưởng kinh tế. Điều này ngụ ý rằng sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào mức tiêu thụ năng lượng và do đó năng lượng là một kích thích tăng trưởng. Điều này có nghĩa rằng thiếu hụt năng lượng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế hoặc có thể gây ra hiệu quả kinh tế kém, dẫn đến giảm thu nhập. Giả thuyết thứ ba được gọi là "giả thuyết phản hồi”, nó ngụ ý rằng cả tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế gây ra cho nhau.
Cuối cùng, các "giả thuyết trung lập" ngụ ý rằng không có quan hệ nhân quả giữa việc tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế. Meadows và các đồng sự (1992) lập luận ngoài mối đe dọa đối với môi trường trong dài hạn, tăng trưởng kinh tế là cần thiết để duy trì và cải thiện chất lượng môi trường. Đồng thời, các mối quan tâm ngày càng tăng về tác dụng phụ của tăng trưởng kinh tế lên môi trường đã thúc đẩy rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cho một khái niệm về phát triển kinh tế bền vững với môi trường giữa sự đánh đổi tăng trưởng kinh tế với chất lượng môi trường (Anderson, 1992). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Các giả thuyết đường cong môi trường Kuznets (EKC), dựa trên giả thuyết mối quan hệ chữ U ngược giữa sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người và thước đo của chất lượng môi trường.
Trong đó mối quan hệ giữa thu nhập và môi trường bị suy thoái chỉ ra một sự gia tăng thu nhập dẫn đến tăng ô nhiễm môi trường nhưng khi đạt đến một điểm nào đó sẽ bị suy giảm, có thể được kiểm tra thực nghiệm bằng cách sử dụng các biện pháp khác nhau của các tiêu chuẩn về môi trường. Tiến xa hơn một khuôn khổ EKC truyền thống, trong đó thu nhập là các biến giải thích duy nhất, Selden và Song (1994) cho thấy lập phương và cao hơn của GDP bình quân đầu người là không dừng. Các nghiên cứu trước, bằng cách sử dụng khung EKC đã bỏ qua những vấn đề các khác biệt đầu tiên của bình phương của quá trình tích hợp là không cố định. Ở trang 412 Wagner (2008) đã chỉ ra ".
đến nay không có kỹ thuật ước lượng cho các bảng bao gồm biến đổi phi tuyến của các quá trình tích hợp có sẵn". Do đó, không thích hợp khi các mô hình bao gồm GDP bình quân đầu người và bình phương của nó khi GDP bình quân đầu người là một quá trình tích hợp và ở trang 394 của bài nghiên cứu Wagner đề nghị-nhiều nhất là một trong GDP bình quân đầu người và bình phương của nó có thể là mộtquá trình tích hợp khi GDP bình quân đầu người là một quá trình tích hợp, bài viết này không sử dụng bình phương của GDP bình quân đầu người 2. 3 Phát triển tài chính Mặc dù công nghệ, i trong phương trình (3), rất khó để đo lường rõ ràng, các nghiên cứu trước đó chỉ ra rằng phát triển tài chính có thể nâng cao sự tiến bộ của công nghệ, việc giảm chi phí thông tin, và lợi nhuận của đầu tư. Các tổ chức phát triển tài chính tốt có thể thúc đẩy đổi mới công nghệ và do đó cải thiện hiệu suất môi trường (Kumbaroglu, Karali, & Arıkan, 2008; Tadesse, 2005).
Javorcik & Spatareanu (2008) và Keller (2004) chỉ ra rằng tăng trưởng FDI không chỉ cung cấp đầu tư vốn cho các doanh nghiệp mà còn là một tác động lây lan trên công nghệ.