Luận văn Thạc sĩ: Tác động của Nợ công đến Tăng trưởng Kinh tế – Thái Hán Vinh

Nghiên cứu tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001-2014. Phân tích thực trạng, quy mô, cơ cấu nợ công và đề xuất giải pháp.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

125
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

TÓM TẮT

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1.1. Khái niệm nợ công

1.2. Phân loại nợ công

1.3. Chỉ tiêu đánh giá nợ công

1.4. Tăng trưởng kinh tế

1.4.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế

1.4.2. Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế

1.5. Tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế

1.5.1. Tác động tích cực

1.5.2. Tác động tiêu cực

1.6. Nghiên cứu thực nghiệm về tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế

1.6.1. Tác động tuyến tính của nợ công đến tăng trưởng kinh tế

1.6.2. Tác động phi tuyến của nợ công đến tăng trưởng kinh tế

2. CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

2.1. Khái quát thực trạng nợ công việt nam

2.1.1. Quy mô nợ công

2.1.2. Cơ cấu nợ công

2.1.3. Nguyên nhân nợ công

2.1.4. Thực trạng sử dụng nợ công

2.2. Khả năng thanh toán nợ công

2.3. Ước lượng tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế

2.3.1. Phương pháp nghiên cứu

2.3.2. Ước lượng tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế

3. CHƯƠNG 3: KHUYẾN NGHỊ CHO NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM

3.1. Cơ sở định hướng cho các khuyến nghị

3.1.1. Chiến lược Tài chính đến năm 2020

3.1.2. Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn 2030

3.1.3. Các cơ sở dùng làm định hướng khuyến nghị khác

3.2. Kiểm soát quy mô nợ công

3.2.1. Kiểm soát thâm hụt ngân sách

3.2.2. Kiểm soát mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư

3.3. Tái cơ cấu nợ công và và duy trì nền kinh tế ổn định

3.4. Nguồn tài trợ và thay thế nợ công

3.4.1. Thu hút nguồn vốn từ công chúng trong nước

3.4.2. Thu hút nguồn vốn từ kiều bào ngoài nước

3.5. Quản lý nợ công

3.5.1. Khuyến nghị quản lý thông tin nợ công

3.5.2. Khuyến nghị về khung pháp lý và chính sách quản lý nợ công nợ công

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nợ Công Ảnh Hưởng Tới Tăng Trưởng Kinh Tế

Nợ công đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển. Nó cho phép chính phủ huy động vốn để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, giáo dục và y tế. Tuy nhiên, việc quản lý nợ công không hiệu quả có thể gây ra những hậu quả tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, hiểu rõ bản chất và tác động của nợ công là điều vô cùng cần thiết.

Nợ công là toàn bộ các nghĩa vụ nợ của chính phủ và các cơ quan trực thuộc chính phủ; nợ của chính quyền địa phương; nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của các thể chế độc lập, các tổ chức thuộc quyền sở hữu nhà nước mà trong trường hợp vỡ nợ thì nhà nước phải có nghĩa vụ thanh toán. Luật Quản lý nợ công năm 2009 của Việt Nam quy định nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng giá trị hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra trong một nền kinh tế sau khi đã điều chỉnh lạm phát trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 1 năm. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là những chỉ tiêu quan trọng để đo lường tăng trưởng kinh tế.

Mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế là phức tạp và nhiều chiều. Nợ công có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách cung cấp nguồn vốn cho đầu tư, nhưng cũng có thể kìm hãm tăng trưởng nếu không được quản lý hiệu quả. Bài viết này sẽ đi sâu vào phân tích các khía cạnh khác nhau của mối quan hệ này, từ lý thuyết đến thực tiễn, và đề xuất các giải pháp để quản lý nợ công một cách bền vững. Theo CIEM (2013) trong chuyên đề “Đầu tư công, nợ công và mức độ bền vững ngân sách Việt Nam” thì nợ công có nhiều tác động tích cực, nhưng cũng có không ít tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.

1.1. Phân loại Nợ công Các hình thức và đặc điểm chính

Nợ công có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, bao gồm thời hạn vay (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn), chủ thể cho vay (trong nước, nước ngoài), trách nhiệm đối với chủ nợ (trực tiếp, dự phòng), phương thức huy động vốn (thỏa thuận trực tiếp, công cụ nợ), điều kiện vay (ODA, ưu đãi, thương mại) và đồng tiền vay nợ (nội tệ, ngoại tệ). Mỗi loại nợ có những đặc điểm và rủi ro riêng, đòi hỏi các biện pháp quản lý phù hợp.

Việc phân loại nợ công giúp cho việc quản lý nợ trở nên hiệu quả hơn. Ví dụ, việc theo dõi t trọng nợ công ngắn hạn giúp chính phủ kiểm soát rủi ro thanh khoản. Tương tự, việc theo dõi cơ cấu đồng tiền vay nợ giúp chính phủ quản lý rủi ro t giá.

1.2. Chỉ tiêu Đánh giá Nợ công Tiêu chí và cách sử dụng hiệu quả

Để đánh giá tình hình nợ công, cần sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu, bao gồm các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ (Tổng nợ công/GDP, Nợ công nước ngoài/GDP, Nợ công trong nước/GDP), cơ cấu nợ (Nợ trong nước/Tổng nợ, Nợ nước ngoài/Tổng nợ, Nợ ngắn hạn/Tổng nợ, Nợ ưu đãi/Tổng nợ, loại đồng tiền vay nợ, loại lãi suất vay nợ) và tính thanh khoản (Tổng nợ/Thu NSNN, Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp/Thu NSNN, Nợ công nước ngoài/Xuất khẩu, Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài/Xuất khẩu, Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài/dự trữ ngoại hối). Các chỉ tiêu này cung cấp thông tin về khả năng trả nợ, rủi ro và chi phí của nợ công. Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, t lệ hợp lý với trường hợp các nước đang phát triển nên ở mức dưới 50% GDP[32]. Tuy nhiên, trên thực tế không có hạn mức an toàn chung cho các nền kinh tế; không phải t lệ nợ công trên GDP thấp là trong ngưỡng an toàn và ngược lại mà cơ sở đánh giá nợ công an toàn không phản ánh toàn diện qua t lệ nợ công/GDP, mà cần phải xem xét một cách toàn diện trong mối liên hệ với hệ thống các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, nhất là tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động tổng hợp, hiệu quả sử dụng vốn (qua tiêu chí ICOR1), tỉ lệ thâm hụt ngân sách, mức tiết kiệm nội địa và mức đầu tư toàn xã hội.

II. Thách Thức Từ Nợ Công Tác Động Tiêu Cực tới Nền Kinh Tế

Mặc dù nợ công có thể mang lại lợi ích cho nền kinh tế, nhưng nếu không được quản lý tốt, nó có thể gây ra những hậu quả tiêu cực. Nghiên cứu của Modigiani (1961)[50] cho rằng nợ công là một gánh nặng cho những thế hệ sau, ông lập luận rằng khi chính phủ vay tiền thì chính phủ phải tăng thuế để bù đắp lại các khoản lãi phải trả cho các khoản vay. Việc tăng thuế trong tương lai làm giảm thu nhập của dân chúng nên thực chất tổng nguồn vốn đầu tư trong nền kinh tế không đổi, chỉ chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác. Thêm nữa, thu nhập kỳ vọng giảm do việc tăng thuế cũng không kích thích đầu tư để tăng trưởng kinh tế.

Một trong những thách thức lớn nhất là gánh nặng nợ cho thế hệ tương lai. Khi chính phủ vay nợ, thế hệ tương lai sẽ phải trả nợ thông qua thuế. Điều này có thể làm giảm thu nhập khả dụng và hạn chế khả năng tiêu dùng và đầu tư của họ. Nợ công cũng có thể tạo áp lực lên lạm phát. Khi chính phủ tăng vay nợ trong nước, lãi suất có thể tăng lên, làm tăng chi phí đầu tư và giá thành sản phẩm. Bên cạnh đó lãi suất tăng, người nắm giữ trái phiếu chính phủ cảm thấy mình trở nên giàu có hơn và có thể tiêu dùng nhiều hơn. Tiêu dùng tư nhân tăng, chi tiêu công của chính phủ tăng dẫn đến cầu hàng hóa, dịch vụ tăng, tạo áp lực lạm phát trong ngắn hạn, từ đó tác động tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng thực của nền kinh tế. Nợ công làm tăng lãi suất dẫn đến giảm đầu tư tư nhân.

Ngoài ra, nợ công còn có thể làm giảm tính cạnh tranh của nền kinh tế. Khi chính phủ phải dành một phần lớn ngân sách để trả nợ, họ có thể cắt giảm chi tiêu cho giáo dục, y tế và cơ sở hạ tầng. Điều này có thể làm giảm năng suất lao động và làm suy yếu khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.

2.1. Hiệu ứng Chèn lấn Nợ công ảnh hưởng tới đầu tư tư nhân

Hiệu ứng chèn lấn xảy ra khi chính phủ vay nợ để tài trợ cho chi tiêu công, làm giảm nguồn vốn có sẵn cho khu vực tư nhân. Điều này có thể làm tăng lãi suất và giảm đầu tư tư nhân, từ đó làm chậm tăng trưởng kinh tế. Thâm hụt ngân sách chính phủ được tài trợ bằng nợ nhiều hơn sẽ khiến cho các nhà đầu tư lo ngại về khả năng thanh toán của quốc gia. Nếu quốc gia đó muốn thuyết phục các nhà đầu tư này tiếp tục tài trợ cho mình thì buộc phải đánh đổi bằng sự hấp dẫn của lãi suất để bù đắp rủi ro vỡ nợ gia tăng, kết quả là lãi suất dài hạn sẽ gia tăng cao hơn.

Để giảm thiểu hiệu ứng chèn lấn, chính phủ cần quản lý nợ công một cách cẩn thận và ưu tiên chi tiêu cho các dự án có hiệu quả kinh tế cao.

2.2. Nợ công và Lạm phát Mối quan hệ và tác động tiềm ẩn

Nợ công có thể gây ra lạm phát nếu chính phủ in tiền để trả nợ. Điều này làm tăng cung tiền và làm giảm giá trị của đồng tiền, dẫn đến tăng giá cả hàng hóa và dịch vụ. Bên cạnh đó lãi suất tăng, người nắm giữ trái phiếu chính phủ cảm thấy mình trở nên giàu có hơn và có thể tiêu dùng nhiều hơn. Tiêu dùng tư nhân tăng, chi tiêu công của chính phủ tăng dẫn đến cầu hàng hóa, dịch vụ tăng, tạo áp lực lạm phát trong ngắn hạn, từ đó tác động tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng thực của nền kinh tế.

Để kiểm soát lạm phát, chính phủ cần thực hiện các chính sách tiền tệ và tài khóa chặt chẽ, đồng thời cải thiện năng suất lao động.

2.3. Gánh nặng nợ cho thế hệ tương lai Bài toán nan giải

Đây là một trong những tác động tiêu cực lớn nhất của việc vay nợ, đặc biệt trong bối cảnh hiệu quả đầu tư không tương xứng với mức nợ. Một nền kinh tế phát triển hướng ngoại đến mức phụ thuộc rất lớn vào các nguồn lực bên ngoài không được xem là một nền kinh tế phát triển bền vững. Nếu đầu tư không hiệu quả thì không những hoạt động đầu tư đó không mang lại kết quả theo mục đích định trước mà còn làm mất thêm cả phần nguồn lực xã hội tạo ra. Hậu quả, giảm sút uy tín với các quốc gia cho vay, lãi suất dài hạn cao hơn, bóp méo hệ thống thuế trong tương lai, lạm phát và sự không chắc chắn về các triển vọng và chính sách.

Để giải quyết vấn đề này, chính phủ cần sử dụng nợ công một cách hiệu quả và đầu tư vào các dự án có khả năng sinh lời cao trong tương lai.

III. Quản Lý Nợ Công Hiệu Quả Giải Pháp cho Tăng Trưởng Bền Vững

Để nợ công trở thành động lực cho tăng trưởng kinh tế, cần có các biện pháp quản lý hiệu quả. Các biện pháp này bao gồm kiểm soát quy mô nợ, tái cơ cấu nợ, đa dạng hóa nguồn tài trợ và tăng cường minh bạch. Khuyến nghị về khung pháp lý và chính sách quản lý nợ công nợ công.

Kiểm soát quy mô nợ là điều kiện tiên quyết để đảm bảo tính bền vững của nợ công. Chính phủ cần đặt ra các mục tiêu cụ thể về mức nợ và thực hiện các biện pháp để đạt được các mục tiêu này. Đồng thời, chính phủ cần tăng cường kiểm soát thâm hụt ngân sách và khuyến khích tiết kiệm đầu tư. Kiểm soát mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư.

Tái cơ cấu nợ có thể giúp giảm gánh nặng nợ và cải thiện khả năng trả nợ. Các biện pháp tái cơ cấu nợ bao gồm kéo dài thời hạn trả nợ, giảm lãi suất và xóa nợ. Đa dạng hóa nguồn tài trợ có thể giúp giảm rủi ro và chi phí vay nợ. Chính phủ có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm thị trường trong nước, thị trường quốc tế và các tổ chức tài chính quốc tế.

Cuối cùng, tăng cường minh bạch là điều cần thiết để đảm bảo trách nhiệm giải trình và ngăn ngừa tham nhũng. Chính phủ cần công bố thông tin đầy đủ và kịp thời về tình hình nợ công và sử dụng nợ công.

3.1. Kiểm soát Thâm hụt Ngân sách Yếu tố then chốt

Thâm hụt ngân sách là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tăng nợ công. Do đó, việc kiểm soát thâm hụt ngân sách là yếu tố then chốt để quản lý nợ công hiệu quả. Nhu cầu đi vay để bù đắp thâm hụt tăng lên dẫn đến nợ công tăng lên, đó cũng là một trong các nguyên nhân chính khiến cho nợ công Việt Năm tăng và có xu hướng phình to những năm gần đây.

Để kiểm soát thâm hụt ngân sách, chính phủ cần tăng thu ngân sách và giảm chi ngân sách. Tăng thu ngân sách có thể đạt được thông qua cải cách hệ thống thuế, mở rộng cơ sở thuế và tăng cường quản lý thuế. Giảm chi ngân sách có thể đạt được thông qua cải cách hành chính, cắt giảm chi tiêu không hiệu quả và tăng cường kiểm soát chi tiêu.

3.2. Tái cơ cấu Nợ công Phương pháp và lưu ý quan trọng

Tái cơ cấu nợ là quá trình thay đổi các điều khoản của khoản nợ, chẳng hạn như kéo dài thời hạn trả nợ, giảm lãi suất hoặc xóa nợ. Tái cơ cấu nợ có thể giúp giảm gánh nặng nợ và cải thiện khả năng trả nợ.

Tuy nhiên, tái cơ cấu nợ cũng có thể gây ra những hậu quả tiêu cực, chẳng hạn như làm giảm uy tín tín dụng của quốc gia. Do đó, chính phủ cần cân nhắc kỹ lưỡng các lợi ích và chi phí của tái cơ cấu nợ trước khi quyết định thực hiện.

3.3. Thu hút nguồn vốn trong nước và kiều bào

Đây là một trong những giải pháp giúp giảm áp lực nợ công. Bên cạnh đó, Luận văn cũng đề xuất cần tái cơ cấu nợ công và phát huy các nguồn vốn tài trợ cho đầu tư trong nước nhưng lại không làm gia tăng quy mô và áp lực trả nợ. Chính phủ có thể huy động vốn từ công chúng trong nước và kiều bào thông qua việc phát hành trái phiếu chính phủ và các công cụ tài chính khác.

Để thu hút vốn từ công chúng, chính phủ cần tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn và tin cậy. Ngoài ra, Luận văn cũng khuyến nghị Chính phủ cần quản lý tốt và minh bạch hóa thông tin nợ công đồng thời cần được định nghĩa nợ công một cách chính xác hơn theo chuẩn quốc tế để dữ liệu nợ được phản ảnh trung thực.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Tác Động Nợ Công tới Tăng Trưởng Việt Nam

Tình hình nợ công của Việt Nam đang ngày càng trở nên đáng quan ngại. Theo công bố của IMF, tổng nợ công của Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2014 có chiều hướng gia tăng liên tục. Cụ thể, nợ công năm 2001 chỉ ở mức khoảng 10,202 triệu USD (155,316 t VND theo t giá hiện hành - IMF) đã tăng lên mức 109,084 triệu USD (2,204,982 t VND) vào năm 2014.

Xét về t lệ nợ công/GDP, chỉ tiêu giám sát khả năng thanh toán của chính phủ đối với những khoản vay thì tính trong giai đoạn 2001 – 2014, t lệ này biến thiên theo chiều hướng gia tăng từ 32.80% vào cuối năm 2001, tốc độ tăng đạt 70%. Căn cứ vào Nghị quyết số 10/2011/QH13 về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011 – 2015[15] có đề cập rằng nợ công Việt Nam đến năm 2015 không vượt quá 65% GDP và Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn 2030 thông qua Quyết định số 95/QĐ-TTg trong đó nợ công tính đến 2020 không vượt quá 65% GDP và với mục tiêu giảm dần nợ công, đến năm 2030 nợ công không quá 60% GDP, dư nợ Chính phủ không quá 50% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP thì con số nợ công Việt Nam theo IMF trong năm 2013 là 51.80% có thể nói là tương đối phù hợp về chuẩn an toàn ở Việt Nam và thông lệ quốc tế (tầm kiểm soát của Liên Hiệp Quốc là 60%). Dù chưa có con số thống nhất về nợ công và t lệ nợ công/GDP ở Việt Nam, song các số liệu chính thức của Chính phủ cũng như các tổ chức quốc tế cho phép rút ra nhận định chung là nợ công Việt Nam tuy cao nhưng vẫn đang ở giới hạn tương đối an toàn. Tuy nhiên cần quan tâm nhiều hơn khi tốc độ gia tăng nợ không ngừng tăng cao.

Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế, nhưng vẫn còn nhiều thách thức phía trước, đặc biệt là vấn đề nợ công. Để đảm bảo tăng trưởng bền vững, Việt Nam cần quản lý nợ công một cách cẩn thận và sử dụng nợ công một cách hiệu quả.

4.1. Thực trạng Nợ công Việt Nam Đánh giá và phân tích chi tiết

So sánh t lệ nợ công/GDP của Việt Nam với các nước trong khu vực ASEAN và trên thế giới. Phân tích cơ cấu nợ công của Việt Nam, bao gồm nợ trong nước và nợ nước ngoài, nợ ngắn hạn và nợ dài hạn, nợ có lãi suất cố định và nợ có lãi suất thả nổi.

Đánh giá khả năng trả nợ của Việt Nam dựa trên các chỉ tiêu như tổng nợ/thu NSNN, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp/thu NSNN, nợ công nước ngoài/xuất khẩu, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài/xuất khẩu và nghĩa vụ trả nợ nước ngoài/dự trữ ngoại hối.

4.2. Ngưỡng Nợ công An toàn Nghiên cứu và khuyến nghị cho Việt Nam

Xác định ngưỡng nợ công an toàn cho Việt Nam dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm và kinh nghiệm của các quốc gia khác. Kết quả nghiên cứu đã thiết lập mức ngưỡng nợ công là 64% đối với các quốc gia trong mẫu chung và 60% đối với nhóm các quốc gia đang phát triển.

Đề xuất các biện pháp để Việt Nam duy trì nợ công ở mức an toàn và sử dụng nợ công một cách hiệu quả để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

V. Tương Lai Nợ Công Định Hướng Chính Sách để Tăng Trưởng Vượt Bậc

Để đối phó với những thách thức về nợ công và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, Việt Nam cần có một chiến lược nợ công rõ ràng và hiệu quả. Chiến lược này cần tập trung vào kiểm soát quy mô nợ, cải thiện cơ cấu nợ, tăng cường minh bạch và sử dụng nợ công một cách hiệu quả. Đồng thời, chiến lược cần xem xét đến các yếu tố như tình hình kinh tế thế giới, biến đổi khí hậu và các yếu tố xã hội khác.

Chính phủ cần tăng cường hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế và các quốc gia khác để có được sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật. Đồng thời, chính phủ cần tăng cường đối thoại với người dân và các bên liên quan khác để xây dựng sự đồng thuận về chính sách nợ công.

5.1. Giải pháp Kiểm soát Nợ công Ưu tiên và lộ trình thực hiện

Đề xuất các giải pháp cụ thể để kiểm soát quy mô nợ công, chẳng hạn như tăng thu ngân sách, giảm chi ngân sách và cải thiện hiệu quả đầu tư công.

Xây dựng lộ trình thực hiện các giải pháp này, bao gồm các mục tiêu cụ thể, các hoạt động cần thiết và các nguồn lực cần thiết.

5.2. Chính sách Tài khóa và Tiền tệ Hỗ trợ quản lý nợ công

Phân tích vai trò của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong việc quản lý nợ công.

Đề xuất các chính sách tài khóa và tiền tệ phù hợp để hỗ trợ quản lý nợ công và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

02/10/2025
Luận văn thạc sĩ tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Khái niệm nợ công Cho đến nay khái niệm nợ công vẫn chưa được thống nhất giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế và các nhà nghiên cứu kinh tế do tính chất phức tạp và sự khác biệt trong quan niệm của các quốc gia. Trước khi tìm hiểu về nợ công, cần hiểu rõ khái niệm về nợ, khu vực công và mối quan hệ giữa nợ công với nợ quốc gia.

Khái niệm nợ theo quy định tại Mục 1 Điều 3 của Luật Quản lý nợ công năm 2009[12] là số dư của mọi nghĩa vụ trả nợ phải hoàn trả bao gồm các khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác có liên quan tại một thời điểm, phát sinh từ việc vay nợ của các chủ thể được phép vay vốn theo quy định pháp luật Việt Nam. Khái niệm khu vực công theo Cẩm nang thống kê tài chính chính phủ (IMF, 2001)[3] gồm khu vực chính phủ nói chung và khu vực các tổ chức công. Trong đó, khu vực chính phủ bao gồm chính phủ trung ương và các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương. Khu vực các tổ chức công phân làm hai nhóm gồm khu vực các tổ chức công tài chính và khu vực các tổ chức công phi tài chính.

Các tổ chức công tài chính bao gồm các định chế tiền tệ và phi tiền tệ công (định chế tiền tệ công bao gồm NHTW, các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước; định chế phi tiền tệ công bao gồm các định chế tài chính phi tiền gửi thuộc sở hữu nhà nước). Các tổ chức công phi tài chính bao gồm các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước. Vậy, nợ công là nợ của khu vực công, tuy nhiên cần phải phân biệt giữa nợ công và nợ quốc gia. Nợ quốc gia hiểu một cách rộng rãi là nợ của các đối tượng mang quốc tịch của một quốc gia – bao gồm cả nợ của khu vực công và nợ khu vực tư nhân không được bảo lãnh, trong đó tỉ trọng nợ khu vực công luôn chiếm trọng số lớn so với nợ khu vực tư nhân đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển.

download by : skknchat@gmail.com 2 Nợ quốc gia Tổng nợ công Nợ nước Nợ trong ngoài nước Nợ công Nợ tư nước Nợ công Nợ tư trong nước ngoài ngoài trong nước nước H nh 1. Cấu trúc nợ quốc gia [Nguồn: World Bank (2006),“How to do a Debt Sustainability Analysis for Low-Income Countries. A Guide to LIC Debt Sustainability Analysis”] [56] Khái niệm nợ công theo cách tiếp cận của WB là toàn bộ những khoản nợ trong nước và ngoài nước của khu vực công bao gồm nghĩa vụ nợ của bốn nhóm chủ thể là nợ của chính phủ trung ương và các cơ quan trung ương trực thuộc chính phủ; nợ của các cấp chính quyền địa phương; nợ của NHTW và nợ của các tổ chức độc lập mà chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc việc quyết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của chính phủ hoặc chính phủ là người chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ[32]. Theo IMF thì nợ công được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công bao gồm toàn bộ khu vực chính phủ nói chung và khu vực các tổ chức công[3].

Do đó, theo IMF thì nợ công bao hàm luôn cả khoản nợ của các DNNN. Trong hướng dẫn chung về nợ công được phát hành bởi Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao INTOSAI (2000)[43] đã định nghĩa nợ công là những khoản phải trả hay các cam kết khác được gánh chịu trực tiếp bởi các cơ quan công quyền như chính phủ trung ương, các chính phủ liên bang tùy thuộc vào thể chế chính trị từng nước, các doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh do nhà nước sở hữu quản lý và các download by : skknchat@gmail.com 3 đơn vị nhà nước khác. Tại hầu hết các nước trên thế giới, nợ công được xác định bao gồm nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh. Một số nước, nợ công còn bao gồm nợ của chính quyền địa phương (Bungari, umani,…), nợ của DNNN phi lợi nhuận (Thái Lan, Macedonia,…).

Như vậy, quan niệm về nợ công cũng còn tùy thuộc vào thể chể kinh tế - chính trị của mỗi quốc gia[9]. Tại Việt Nam, theo Luật Quản lý nợ công năm 2009[12] số 29/2009/QH12 có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy định nợ công bao gồm: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương, trong đó nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, u quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do NHNN Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.

Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc u quyền phát hành. Như vậy, nợ công theo quy định của Việt Nam chỉ gồm nợ của chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương, không bao gồm nợ của các DNNN, đây là điểm khác biệt so với khái niệm nợ công của các tổ chức quốc tế như WB, M và NT SA. Sự khác biệt này là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự khác nhau về số liệu trong báo cáo về nợ công của Việt Nam và các tổ chức quốc tế. Từ những phân tích về nợ công trên có thể đưa ra một khái niệm chung về nợ công như sau: nợ công là toàn bộ các nghĩa vụ nợ của chính phủ và các cơ quan trực thuộc chính phủ; nợ của chính quyền địa phương; nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của các thể chế độc lập, các tổ chức thuộc quyền sở hữu nhà nước mà trong trường hợp vỡ nợ thì nhà nước phải có nghĩa vụ thanh toán.

Do khái niệm về nợ công sẽ quyết định đến các số liệu về nợ công, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá tình trạng nợ công của một quốc gia nên khái niệm nợ download by : skknchat@gmail.com 4 công cần phải được thống nhất theo tiêu chí chính xác rõ ràng, toàn diện và thích hợp như hướng dẫn của NT SA năm 2000 (phần 3, trang 7)[43]. Phân loại nợ công  Phân loại theo thời hạn vay nợ Nợ công bao gồm nợ công ngắn hạn, nợ công trung và dài hạn. Theo Ngân hàng Thanh toán quốc tế (B S) thì nợ ngắn hạn là những khoản nợ có thời hạn thanh toán dưới một năm. Nợ trung và dài hạn là những khoản nợ có thời hạn thanh toán còn lại từ một năm trở lên.

Các nhà quản lý thận trọng khi t trọng nợ công ngắn hạn trong tổng nợ công tăng lên vì điều này có thể gây bất ổn cho nền kinh tế và tạo áp lực thanh toán trong khoản nợ cho chính phủ.  Phân loại theo chủ thể cho vay Nợ công trong nước là nợ của chính phủ, chính quyền địa phương hoặc nợ được chính phủ bảo lãnh cần phải được thanh toán đối với người cho vay là các tổ chức, thể nhân trong nước. Nợ công nước ngoài là nợ của chính phủ, chính quyền địa phương hoặc nợ được chính phủ bảo lãnh cần phải được thanh toán đối với người cho vay là các quốc gia, các tổ chức quốc tế. Nợ nước ngoài bao gồm nợ song phương và nợ đa phương.

Nợ đa phương là nợ của các tổ chức đa phương gồm các thành viên là các quốc gia trên thế giới như các cơ quan của Liên Hiệp Quốc, WB, IMF, các ngân hàng phát triển khu vực, các cơ quan đa phương như P C, liên chính phủ. Nợ song phương là nợ đến từ chính phủ một nước như các nước thuộc CD hoặc một tổ chức quốc tế nhân danh một chính phủ duy nhất dưới dạng hỗ trợ tài chính, hỗ trợ nhân đạo bằng hiện vật. Việc phân loại này giúp xác định chính xác hơn tình hình cán cân TTQT. Việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ, vì các khoản vay nước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện TTQT khác.

download by : skknchat@gmail.com 5  Phân loại theo trách nhiệm đối với chủ nợ Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp là nợ do chính phủ hay chính quyền địa phương trực tiếp đi vay từ chủ thể khác nên chính phủ hay chính quyền địa phương phải có trách nhiệm trực tiếp trả nợ Nghĩa vụ nợ dự phòng là nghĩa vụ nợ phát sinh khi xảy ra một hoặc một số sự kiện tín dụng đã được các bên liên quan đến nợ vay thỏa thuận trước đó. Khi chính phủ bảo lãnh nợ cho một chủ thể nhất định nhưng đến hạn thanh toán chủ thể này mất khả năng thanh toán, sự kiện tín dụng này sẽ làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ của chính phủ phải chi trả nợ thay cho chủ thể được bảo lãnh.  Phân loại theo phương thức huy động vốn Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay. Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệp định, thỏa thuận giữa các nhà nước.

Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn. Các công cụ nợ này có thời hạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển nhượng trên thị trường tài chính.  Phân loại theo điều kiện vay Nợ vay từ viện trợ phát triển chính thúc (ODA) là những khoản vay có điều kiện đặc biệt về ưu đãi không những về lãi suất, thời gian cho vay mà còn không cần hoàn lại một phần hay toàn phần khoản nợ vay. Theo định nghĩa của CD thì khoản vay DA là khoản vay ưu đãi về lãi suất và thời gian cho vay, trong đó luôn có yếu tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% tổng giá trị khoản vay đó.

Vì có nhiều điều kiện ưu đãi nên các nước đang phát triển thường hướng tới và tận dụng tối đa nguồn vốn này cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ