Chương 1 tác giả đã trình bày được lý do chọn đề tài đồng thời nêu được mục tiêu nghiên cứu tác động của các nhân tố vĩ mô cơ bản lên tỷ giá hối đoái tại Việt Nam. Từ đó đưa giải pháp điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam. Trong chương này tác giả còn giới thiệu thêm về phạm vi đề tài, phương pháp nghiên cứu và bố cục đề tài. Trên cơ sở mục tiêu, phương pháp và phạm vi nghiên cứu tác giả trình bày cơ sở lý thuyết và nghiên cứu có liên quan nhằm tạo cơ sở khoa học cho đề tài.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Chương này trình bày các lý thuyết về tỷ giá hối đoái và các nhân tố vĩ mô mà tác giả chọn làm biến trong mô hình nghiên cứu. Sau đó, tác giả giới thiệu đến mối quan hệ của từng nhân tố vĩ mô với tỷ giá hối đoái thông qua khung lý thuyết và các nghiên cứu trước đây. Lý thuyết về tỷ giá hối đoái 2. Khái niệm về tỷ giá hối đoái Khái niệm tỷ giá hối đoái được đ nh nghĩa đầu tiên bởi Karl Mark (1818-1883), ông đã viết trong bộ “Tư bản”(1858) “Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế l ch sử, gắn với giai đoạn phát triển sản xuất của xã hội, tính chất, cường độ tác động của nó phụ thuộc vào trình độ phát triển th trường và các giai đoạn cụ thể trong lưu thông tiền tệ thế giới”.
Khái niệm của Karl Mark mang tính lý luận nhiều hơn nghiên cứu thực tế, nhưng khái niệm này cũng thể hiện được phần nào tính l ch sử cũng như sự vận động của tỷ giá hối đoái. Sau khái niệm của Karl Mark, tỷ giá hối đoái được đ nh nghĩa một cách đơn giản và dễ hiểu hơn, cho đến nay khái niệm thường được dùng nhất là “Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn v đồng tiền nước này được thể hiện thông qua số lượng của đồng tiền nước khác” (Trần Hoàng Ngân và cộng sự, 2014). Trong luận văn này, tỷ giá hối đoái được sử dụng là tỷ giá của đồng đô la Mỹ so với đồng Việt Nam. Đây là tỷ giá hối đoái phổ biến ở Việt Nam.
Các loại tỷ giá hối đoái 2. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là mức giá mà tại đó hai đồng tiền có thể chuyển đổi được cho nhau. Cụ thể hơn, chúng ta có thể hiểu tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá của một loại tiền tệ được biểu hiện theo giá hiện tại, không tính đến bất kỳ ảnh hưởng nào của lạm phát. Khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa tăng lên thì đồng nội tệ giảm giá, việc giảm giá của đồng nội tệ sẽ kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu; ngược lại, khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa giảm xuống thì hoạt động xuất khẩu sẽ giảm, nhập khẩu sẽ tăng.
Tuy nhiên, trên thực tế sức cạnh tranh quốc tế của hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu không chỉ dựa vào tỷ giá hối đoái danh nghĩa mà do tỷ giá hối đoái thực quyết đ nh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tỷ giá hối đoái thực Tỷ giá hối đoái thực là mức giá tượng đối của hàng hóa của hai nước khác nhau khi chúng được quy về một trong hai loại tiền của hai nước đó. Một cách cụ thể hơn, tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá hối đoái danh nghĩa đã được điều chỉnh theo lạm phát trong nước và lạm phát nước ngoài, có nghĩa là tỷ giá thực là tỷ giá có tính đến tác động của lạm phát và sức mua của hai loại tiền tệ phản ảnh giá cả hàng hóa tương quan có thể bán ra nước ngoài và hàng tiêu thụ trong nước.
Tỷ giá này đại diện cho sức cạnh tranh quốc tế của nước đó. Tỷ giá hối đoái thực của một nước càng cao thì sức cạnh tranh quốc tế của hàng hóa sản xuất trong nước càng lớn với điều kiện là các yếu tố khác không đổi, ngược lại tỷ giá hối đoái thực thấp thì sức cạnh tranh quốc tế của nước đó càng thấp. Tỷ giá hối đoái thực cần được khảo sát dựa trên mối quan hệ giữa các nước có quan hệ mậu d ch thông qua cách tính tỷ giá thực song phương và tỷ giá thực đa phương. Tỷ giá hối đoái thực được tính toán dựa trên mối quan hệ mậu d ch của một đối tác là chủ nhà với một đối tác thương mại hoặc tính trung bình của nhiều đối tác thương mại chính, hoặc các nước có cạnh tranh với nhau.
Khi so sánh giữa hai nước có quan hệ mậu d ch, tỷ giá hối đoái thực khi đó được xem là tỷ giá thực song phương (BRER), và khi so sánh với nhiều nước có quan hệ mậu d ch, tỷ giá hối đoái thực được gọi là tỷ giá thực đa phương (MEER). Trong trường hợp tính tỷ giá hối đoái thực cho một loại hang hóa thì cách tính tỷ giá hối đoái thực như sau: P hàng hóa sản xuất ở nước ngoài tính bằng nội tệ Tỷ giá hối đoái thực = P hàng hóa sản xuất trong nước tính bằng nội tệ 2. Tỷ giá thực song phương Tỷ giá thực song phương là tỷ giá thực được tính toán một cách dễ dàng và đơn giản nhất, tỷ giá thực song phương so sánh giá cả của một rổ hàng hóa sản xuất hay tiêu dùng của một nước đại diện là nước chủ nhà và một rổ hàng hóa sản xuất hay tiêu dùng của một nước đại diện là nước ngoài và được ước tính bằng một loại tiền tệ là nội tệ hay ngoại tệ. Bên cạnh đó, tỷ giá thực song phương không chỉ được tính toán dựa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 trên mối quan hệ mậu d ch giữa hai quốc gia mà còn có thể được xác lập dựa trên một nước và một khối có sử dụng chung đồng tiền như USD hay EUR.
SPf BRER Ph Trong đó, S là chỉ số tỷ giá danh nghĩa. Ph là chỉ số giá chung ở trong nước. Pf là chỉ số giá chung ở nước ngoài. Khi BRER tăng lên có nghĩa là đồng nội tệ b đ nh giá thấp và khi BRER giảm xuống hàm ý đồng nội tệ được đ nh giá cao.
Tỷ giá thực đa phương Tỷ giá thực đa phương được tính toán dựa trên cơ sở trung bình có trọng số và tỷ giá này được sử dụng khi chúng ta xem xét quan hệ của một đối tác thương mại với nhiều đối tác thương mại khác. Tỷ giá thực đa phương phản ánh sự thay đổi giá tr của một đồng tiền đối với tất cả các đồng tiền còn lại và được điều chỉnh bởi tương quan giá cả của một đồng tiền với các đồng tiền còn lại. m w S P i i i REER i 1 P Trong đó, wi là tổng số mậu d ch với các đối tác thứ i mà nước chủ nhà có quan hệ thuơng mại. Si là tỷ giá giao ngay giữa đồng tiền nước thứ i và đồng nội tệ.
Pi là chỉ số giá của nước i. Các nhân tố kinh tế vĩ mô Đã có khá nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy được mối quan hệ của tỷ giá và các yếu tố vĩ mô. Trong thực tế, các nhân tố kinh tế vĩ mô là lạm phát, tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất, thu nhập, tỷ giá hối đoái… có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau ở một mức độ nào đó. Ở bài nghiên cứu này, tác giả lựa chọn các biến tăng trưởng kinh tế, lãi suất và lạm phát làm các biến độc lập để xem xét ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô này đến một biến vĩ mô khác mà tác giả muốn nghiên cứu – tỷ giá hối đoái.
Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là phương tiện để người dân cải thiện chất lượng cuộc sống, do đó tăng trưởng kinh tế đóng vai trò rất quan trọng đối với các quốc gia trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu, đặc biệt là với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Trong những năm gần đây có rất nhiều nhà nghiên cứu tập trung vào TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 mối quan hệ của tăng trưởng kinh tế và tỷ giá hối đoái. Như vậy, liệu rằng tăng trưởng kinh tế có thực sự tác động đến tỷ giá hối đoái tại Việt Nam hay không? Do đó, để hiểu rõ hơn về biến số kinh tế vĩ mô này trước khi đưa vào nghiên cứu, tác giả đã tìm hiểu các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là “sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất đ nh. Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào hai quá trình: sự tích luỹ tài sản (như vốn, lao động, và đất đai) và đầu tư những tài sản này một cách có năng suất hơn. Tiết kiệm và đầu tư là trọng tâm, nhưng đầu tư phải hiệu quả thì mới đẩy mạnh tăng trưởng. Chính sách chính phủ, thể chế, sự ổn đ nh chính tr và kinh tế, đặc điểm đ a lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên, và trình độ y tế và giáo dục, tất cả đều đóng vai trò nhất đ nh ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế” (Các lý thuyết Tăng trưởng kinh tế).
Y=C+I+G+X–M (theo phương pháp chi tiêu) Trong đó, GDP (Y) là tổng sản lượng của một quốc gia. C là chi tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình được tính toán dựa trên số liệu về doanh số bán lẻ hàng hóa và d ch vụ (có được từ điều tra của Tổng cục thống kê và các cơ sở thương mại và d ch vụ bán lẻ) cân dối sản phầm nông nghiệp và số liệu của điều tra mức sống hộ gia đình. I là đầu tư của tư nhân được tính trên số liệu từ điều tra mẫu của doanh nghiệp ngoài quốc doan, hộ sản xuất kinh doanh cá thể và bảng cân đối sản phẩm nông nghiệp. G là chi tiêu thường xuyên của chính phủ được tính thông qua số liệu quyết toán về chi tiêu hiện hành chính thức có tại bộ Tài chính.
X là xuất khẩu và M là nhập khẩu có từ bảng cán cân thanh toán quốc tế. Số liệu nhập khẩu hàng hóa và d ch vụ được điều chỉnh từ hoạt động xuất nhập khẩu phi mậu d ch tại biên giới chưa được phản ánh trong bảng cán cân thanh toán. Các điều chỉnh dựa trên kết quả cuộc điều tra về hoạt động nhập khẩu phi mậu d ch tại khu vực biên giới năm 1993.