Phần mở đầu khái quát tổng quan về mục tiêu nghiên cứu của đề tài, từ đó đưa ra các câu hỏi nghiên cứu cho đề tài, các phần sau của bài luận văn sẽ tập trung trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu này. Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ ra đối tượng nghiên cứu là đánh giá tác động của vốn con người lên tăng trưởng kinh tế và phạm vi nghiên cứu là tại Việt Nam trong giai đoạn 1990 đến 2013. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1.1 Một số lý luận về nguồn nhân lực Vốn con người (Human capital) được xác định là tài sản của mỗi quốc gia. Khi định giá tài sản quốc gia các nhà kinh tế cũng tính toán phần giá trị của nó vào tổng tài sản.
Ngày nay nguồn vốn này giữ vai trò rất lớn trong sự phát triển của mỗi quốc gia và là nguồn lực quyết định tới tính bền vững sự tăng trưởng kinh tế. Vốn con người là vốn vô hình gắn với con người và thể hiện qua kết quả và hiệu quả làm việc trong quá trình sản xuất. Vốn con người hình thành và tích luỹ nhờ giáo dục đào tạo và từng trải trong cuộc sống lao động. Ngày nay khi vai trò của nguồn nhân lực đang ngày càng được thừa nhận như một yếu tố quan trọng bên cạnh vốn và công nghệ cho mọi sự tăng trưởng thì một trong những yêu cầu để hòa nhập vào nền kinh tế khu vực cũng như thế giới là phải có được nguồn nhân lực có đủ sức đáp ứng những yêu cầu của trình độ phát triển của khu vực, thế giới, thời đại.
Vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích luỹ trong mỗi con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động. Nguồn vốn này được khai thác sử dụng trong quá trình người lao động tham gia vào sản xuất và được phản ánh qua năng suất lao động và hiệu quả công việc của họ. Cùng với vốn hữu hình nó tạo ra tài sản của nền kinh tế, nhưng vốn con người là phần cấu thành quan trọng nhất trong đó, góp phần vào tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế của mỗi nước. Nguồn nhân lực là của toàn bộ nhưng người lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình hoạt động và các thế hệ nối tiếp sẽ phục vụ cho xã hội.
Nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội, là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cư lao động trong độ tuổi lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động. Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tập hợp cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này người lao động bao gồm những người từ dưới giới hạn độ tuổi lao động trở lên.
Người lao động được xem xét trên giác độ số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ nguồn tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng trưởng dân số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn lực càng lớn và ngược lại.
Tuy nhiên mối quan hệ dân số và nguồn lực được biểu hiện sau một thời gian nhất định vì đến lúc đó con người mới phát triển đầy đủ, mới có khả năng lao động. Khi tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội, con người đóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối quá trình đó, hướng nó tới mục tiêu nhất định. Vì vậy nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng, lao động đã có và sẽ có mà nó còn bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng làm việc, thái độ và phong cách làm việc…, tất cả các yếu tố đó ngày nay đều thuộc về chất lượng nguồn nhân lực và được đánh giá là một chỉ tiêu tổng hợp gọi là văn hóa lao động. Ngoài ra, khi xem xét nguồn nhân lực, cơ cấu của lao động - bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng.
Cũng giống như các nguồn lực khác, số lượng và đặc biệt chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng lao động, những người lao động phải được đào tạo, phân bổ theo cơ cấu hợp lý, đảm bảo tính hiệu quả cao trong sử dụng lao động. Một quốc gia có lượng lao động đông đảo, nhưng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nếu phân bổ không hợp lý giữa các ngành, các vùng, cơ cấu đào tạo không phù hợp với nhu cầu sử dụng thì lực lượng lao động đông đảo đó không những không trở thành nguồn lực để phát triển mà nhiều khi còn là gánh nặng cản trở sự phát triển. Nguồn lực con người là tổng thể các tiềm năng, năng lực, khả năng của mỗi cá nhân, của mỗi cộng đồng và toàn xã hội đã tạo ra sự phát triển cho xã hội được thể hiện qua các yếu tố như giáo dục, chuyên môn, kĩ năng lao động, mức sống, sức khỏe, tư tưởng tình cảm.
Trong các yếu tố đó thì 2 nhân tố quan trọng và bao quát nhất là giáo dục và sức khỏe.2 Vai trò của vốn nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế Nguồn nhân lực là mục tiêu tác động chính của sự phát triển. Nói đến vai trò nguồn nhân lực là nói đến vai trò của con người trong sự phát triển. Con người là trung tâm của mọi sự phát triển, mọi sự phát triển đều hướng vào mục tiêu duy nhất là phục vụ con người. Vai trò của con người được thực hiện ở hai mặt: trước hết con người là người tiêu dùng, đồng thời con người cũng sản xuất ra nhưng sản phẩm tiêu dùng.
Sự tiêu dùng của con người là nguồn gốc của sự phát triển, cùng với nhu cầu ngày càng phát triển và đòi hỏi đáp ứng nhu cầu của con người ngày càng nâng cao, sản xuất là để phục vụ tiêu dùng, tiêu dùng là động lực thức đẩy sản xuất. Con người thông qua quá trình lao động sản xuất đã ngày càng đáp ứng hơn nhu cầu tiêu dùng của mình, thông qua hoạt động lao động sản xuất con người phát triển và hoàn thiện hơn, chỉ có thông qua lao động sản xuất con người mới sáng tạo ra các giá trị vật chất tinh thần, lao động của con người đóng vai trò quyết định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nghị quyết của đại hội Đảng VIII quyết định “nâng cao dân trí và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi công nghiệp hoá - hiện đại hoá”. Việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã đem lại những bước tiến thần kỳ cho sự phát triển kinh tế, thực tế đã chứng minh sự phát triển vượt bậc của các quốc gia có chiến lược về công nghệ đúng đắn.
Tài nguyên trí thức là nguồn tài nguyên vô giá, quốc gia nào sử dụng nguồn tài nguyên này thì quốc gia đó nắm được chìa khóa của sự phát triển. Trí thức và công nghệ là sản phẩm của sự sáng tạo của con người hay nói cách khác chính là sản phẩm của nguồn nhân lực qua quá trình lao động, con người chính là chủ thể qua quá trình lao động, công nghiệp hoá - hiện đại hoá có thành công hay không là do chính sách sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả hay không, có làm phát huy mọi tiềm năng của con người để sáng tạo và cống hiến cho đất nước. Trong điều kiện nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá, yếu tố vốn hữu hình tuy còn giữ vài trò quan trọng nhưng không như trong giai đoạn công nghiệp hoá, Thay vào đó vai trò của vốn vô hình mà đặc biệt là vốn con người ngày càng lớn hơn. Đây là nguồn vốn rất quan trọng với các công ty vì được tính vào giá trị của họ, và hình thành nên vốn vô hình của quốc gia.
Vốn con người đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế: (1) đó là các kỹ năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo, vốn con người là yếu tố của quá trình sản xuất kết hợp với vốn hữu hình và các lao động “thô” (không có kỹ năng) để tạo ra sản phẩm; (2) đó là kiến thức để tạo ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế. Ngoài ra, người ta đã đưa vốn con người như một yếu tố đầu vào để phân tích tăng trưởng kinh tế và đã chỉ ra ảnh hưởng tích cực của nó giống như vốn hữu hình nhưng mức độ ngày càng lớn hơn. Tuy nhiên, nếu đầu tư hình thành vốn con người chưa tốt không hiệu quả thì nguồn vốn này không tác động tích cực mà lại làm giảm tăng trưởng. Theo cách tiếp cận thu nhập GDP của nền kinh tế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 bằng tổng thu nhập của mọi người trong nền kinh tế, khi thu nhập của mọi người tăng lên cũng làm tăng chỉ tiêu này.
Borjas, George (2005) thông qua mô hình giáo dục chỉ ra ảnh hưởng tích cực của giáo dục tới thu nhập. Thực tế phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới đã cho thấy tầm quan trọng của vốn con người. Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh, hay sự phục hồi kinh tế nhanh của Tây Âu nhờ vào nguồn nhân lực chất lượng cao chứ không phải tài nguyên. Với các nước đang phát triển dù có nhiều tài nguyên nhưng thiếu lao động có chất lượng nên sự phát triển chậm (Waines, 1963).
Mặt khác, các nước đang phát triển cố gắng thu hút thêm nguồn vốn hữu hình từ bên ngoài để tăng cường cơ sở vật chất cho sự phát triển, tuy nhiên do trình độ quản lý kém do thiếu nhân lực chất lượng cao nên hiệu quả sử dụng vốn huy động thấp đã không cho phép phát triển nhanh kinh tế ở đây.