đặt vấn đề nghiên cứu mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau giữa ngôn ngữ và tâm lí, ngôn ngữ và văn hoá, ngôn ngữ và lịch sử dân tộc. Tâm lí - ngôn ngữ học là khoa học về các quy luật tâm lí và ngôn ngữ của việc tạo thành lời nói từ những yếu tố ngôn ngữ và của việc hiểu kết cấu ngôn ngữ của lời nói, tức là hiểu các yếu tố tạo thành lời nói. Có thể xem nó là khoa học nằm ở ranh giới của ngôn ngữ học, tâm lí học và lí thuyết thông tin. Ngôn ngữ học khu vực gắn liền với tên tuổi của Gilenron, M.
Nó chú ý tới vai trò của các điều kiện không gian, địa lí trong lịch sử các ngôn ngữ và trong việc nghiên cứu ngôn ngữ. Nó nghiên cứu sự phân bố các sự kiện ngôn ngữ giống nhau, các vạch đường đồng ngữ tuyến. Các nhà bác học theo khuynh hướng này đặc biệt chú ý đến các quá trình ảnh hưởng qua lại phức tạp của các ngôn ngữ được sử dụng đồng thời tại một địa phương. Nói tóm lại, ngôn ngữ học là một khoa học có từ lâu.
Nó đã ra đời và phát triển để đáp ứng những nhu cầu của đời sống đặt ra. Những tiến bộ của ngôn ngữ học được đánh dấu bằng sự ra đời, thay thế lẫn nhau của các phương pháp nghiên cứu mới.3 TIỀM NĂNG NGÔN NGỮ VÀ HÀNH VI NGÔN NGỮ THỰC TẾ: Nhà ngôn ngữ học Anh là M. Halliday đã phân biệt tiềm năng ngôn ngữ (linguistic potential) với hành vi ngôn ngữ thực tế (actual linguistic behaviour). Ông nhìn ngôn ngữ theo quan điểm chức năng, quan tâm nhiều đến cái người nói thực hiện hành vi nhờ ngôn ngữ.
Với ngôn ngữ, người nói có thể đóng góp rất nhiều thứ cho nền văn hóa của họ. Có nhiều cái để nói, có thể nói với nhiều người, về nhiều chủ đề khác nhau. Cái họ thường nói trong một dịp nào đó, với một cá nhân nào đó là cái được lựa chọn trong nhiều cái có thể mà họ đã nói. Tiềm năng ngôn ngữ của Halliday tương tự với ngôn ngữ của Saussure và ngữ năng của Chomsky; hành vi ngôn ngữ thực tế thì tương tự với lời nói và ngữ hành.
Lời nói, ngữ hành và hành vi ngôn ngữ thực tế có nhiều điểm chung. Nhưng ngôn ngữ và ngữ năng và tiềm năng ngôn ngữ thì khác nhau đáng kể. Chúng chỉ giống nhau về một phương diện, đó là điều chỉ cái ổn định, làm cơ sở cho các phát ngôn, là cái tạo thành lời nói, ngữ hành và hành vi ngôn ngữ thực tế. Giữa chúng có sự phân biệt rõ ràng: Ngôn ngữ là một cái đặc điểm xã hội trong khi tiềm năng ngôn ngữ là cái mà người nói có thể lựa chọn.
Ngữ năng là một hình thức của sự hiểu biết, trong khi tiềm năng ngôn ngữ là những khả năng để thực hiện. Sự phân biệt giữa ngữ năng và ngữ hành là sự phân biệt một bên là cái mà cá nhân hiểu và một bên là cái mà nó thực hiện, trong khi sự phân biệt giữa tiềm năng ngôn ngữ và hành vi ngôn ngữ thực tế là sự phân biệt giữa một cái cá nhân có thể thực hiện và cái mà một cá nhân thực hiện.4 NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾT: Gắn liền với sự phân biệt nội dung hai tên gọi diễn ngôn và văn bản là sự phân biệt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết (lời miệng và lời viết, sản phẩm ngôn ngữ nói và sản phẩm ngôn ngữ viết). 17 Có thể nói rằng chính sự khó phân biệt ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết kéo theo cách hiểu và cách dùng không phải bao giờ cũng phân minh hai tên gọi diễn ngôn và văn bản như đã thấy ở bài mục trước. Về kinh nghiệm thực tiễn thì một cách sơ bộ và dễ nhận biết, vấn đề phân biệt ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết có thể được xem xét ở ba phương diện: - Phương tiện chất liệu; - Phương tiện hoàn cảnh sử dụng; - Phương tiện bên trong hệ thống ngôn ngữ.
Nếu hiểu ngôn ngữ nói theo nghĩa hẹp là ngôn ngữ âm thanh dùng trong hội thoại tự nhiên (natural conversation), còn ngôn ngữ viết được hiểu rộng, bao gồm cả những lời phát biểu trên cơ sở một bài viết sẵn, thì có thể tóm lược các điểm phân biệt ở ba phương diện trên như trong bảng đối chiếu sau đây: 18 BẢNG ĐỐI CHIẾU CÁC ĐIỂM PHÂN BIỆT TRỰC QUAN GIỮA NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾT Ngôn ngữ nói Ngôn ngữ viết 1. Về chất liệu a) Âm thanh của ngôn ngữ trải ra trong a) Chữ viết trải ra không gian (phản ánh thời gian và một chiều. Sử dụng ngữ tính tuyến thời gian). Có hệ thống dấu câu đặc thù.
Có thể sử dụng các phương tiện kèm ngôn ngữ.Về hoàn cảnh sử dụng b) Có tính chất tức thời không được dàn b) Có điều kiện dàn dựng, có cơ hội gọt dựng trước, không có cơ hội gọt giũa, giũa, kiểm tra. Thường không có người kiểm tra. Có người nghe trực tiếp (mặt nghe trực tiếp (mặt không đối mặt).Mặt bên trong hệ thống ngôn ngữ c)Về ngữ âm c) Về chữ viết Sử dụng đúng và tốt hệ thống ngữ âm cụ Viết đúng chuẩn chính tả thống nhất toàn thể (cố gắng tránh lặp đặc thù ngữ âm dân (tránh phản ánh đặc thù ngữ âm của địa phương hẹp - được coi là “ngọng” địa phương hẹp, nếu không cần thiết). khi không cần thiết).
Dùng tốt ngữ điệu. Viết đúng quy cách con chữ, dùng tốt dấu câu. Tuân thủ nghiêm ngặt những quy định hình thức của các văn bản pháp quy. d) Về dùng từ d)Về dùng từ Cho phép sử dụng chung những từ ngữ Dùng những từ ngữ của riêng phong của riêng phong cách hội thoại thường cách hội thoại, khi không cần thiết.
e) Về câu e) Về câu 19 Thường dùng câu ngắn gọn. Có thể dùng Có thể dùng câu ghép dài, nhiều bậc. Có câu tỉnh lược nhiều bộ phận, kể cả việc thể dùng câu tỉnh lược chủ ngữ và bổ tỉnh lược đồng thời chủ ngữ và vị ngữ. Nhiều khi cũng dùng từ ngữ lặp thừa Tránh dùng câu tỉnh lược cùng một lúc trong câu mà không nhằm mục đích diễn cả chủ ngữ và động từ làm vị ngữ (hoặc đạt sắc thái tu từ.
toàn bộ vị ngữ) mà không có tác dụng tu từ học đủ rõ. “Ngôn ngữ và văn hóa có liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời. Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ. Người ta nói rằng ngôn ngữ và văn tự là sự kết tinh của văn hóa dân tộc.
Sự biến đổi và phát triển ngôn ngữ lại luôn luôn đi song song với biến đổi và phát triển văn hóa”. Vậy để hiểu rõ hơn về ngôn ngữ chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu đôi nét về văn hóa, bởi lẽ muốn nghiên cứu sâu về văn hóa phải nghiên cứu ngôn ngữ và muôn đi sâu vào ngôn ngữ phải chú tâm đến văn hóa.2 KHÁI NIỆM VĂN HOÁ: 1.1 VĂN HOÁ LÀ GÌ? Nếu khảo sát về phương diện xã hội thì khái niệm văn hóa tồn tại dưới 2 dạng: - Dạng phổ thông: là dạng có tính phổ biến với đại đa số quần chúng. - Dạng thuật ngữ: là dạng có tính chuyên môn, không phổ biến, chỉ tồn tại ở tầng lớp trí thức. Với nghĩa rộng, văn hóa là cái thể hiện đặc trưng của tính người, tức là cái đặc trưng làm cho con người khác hẳn loài vật.
Với nghĩa này thì văn hóa là một hiện tượng xã hội loài người, đối lập với những hiện tượng thuộc hiện tượng thiên nhiên như gió, mưa, sấm, chớp, sông, biển. nghĩa là, văn hóa bao giờ cũng mang một đặt trưng rất quan trọng: cải biến tự nhiên thông qua hoạt động có ý thức của con người. Đây là đặc trưng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và nhấn mạnh. Theo quan điểm xã hội học, văn hóa được hiểu là phương thức sống chung của một cộng đồng người trong một giai đoạn lịch sử, một xã hội nào đó.
20 Với một số ngành khoa học nhân văn, văn hóa là một khái niệm được hiểu qua một phức hệ các mặt của tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa.
Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra. Một trong những biểu hiện cụ thể của văn hóa đó chính là ứng xử văn hóa. Vậy ứng xử văn hóa là gì, nó biểu hiện ra sao.
Để đáp ứng được những câu hỏi ấy, chúng ta hãy cùng nhau đi tìm hiểu đôi nét về ứng xử văn hóa.2 ỨNG XỬ VĂN HOÁ: Trên thực tế, khái niệm ứng xử văn hóa cũng được hiểu theo hai nghĩa khác nhau. a) Hiểu theo nghĩa hẹp, ứng xử văn hóa chỉ là thái độ, hành vi của con người trong giao tiếp đời sống với những người xung quanh. b) Hiểu theo nghĩa rộng, ứng xử văn hóa ngoài ý nghĩa trên còn bao gồm cả cách ứng xử với thiên nhiên, với môi trường sinh thái nhân văn xung quanh đời sống con người. Cụ thể là, ứng xử văn hóa hiểu theo nghĩa (a) được khái quát thành sơ đồ sau: 21 ỨNG XỬ VĂN HÓA PHẠM VI GIA ĐÌNH Quan hệ họ hàng, thân tộc Quan hệ gia đình Quan hệ vợ- chồng Quan hệ ông bà, cha mẹ Quan hệ anh chị em PHẠM VI XÃ HỘI Cùng cộng đồng dân tộc Ngoài cộng đồng dân tộc Làng xã Sắc tộc Miền vùng Khách quý Quan hệ hợp tác Kẻ thù 22 Sự biểu hiện cụ thể của những cách ứng xử văn hóa ở (a) phản ánh những đặc trưng mang tính bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc.
Còn sự biểu hiện những cách hiểu văn hóa ở (b). phản ánh trình độ phát triển khoa học kĩ thuật, trình độ phát triển khoa học kĩ thuật, trình độ vănh minh và cách thức tổ chức quản lí xã hội ở mỗi dân tộc cụ thể.