CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THAM GIA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan về hoạt động nghiên cứu khoa học 1. Khái niệm nghiên cứu khoa học NCKH đã được định nghĩa trong nhiều tài liệu trước đây. Ví dụ như theo Babbie (1986), NCKH là cách thức con người tìm hiểu các hiện tượng khoa học một cách có hệ thống.
Nguyễn Văn Thắng (2014) định nghĩa NCKH là quá trình quan sát hiện tượng nhằm phát hiện tri thức mới. Saunders và cộng sự (2016) định nghĩa NCKH là quá trình mà con người thực hiện một cách có hệ thống nhằm tìm hiểu sự việc, từ đó nâng cao kiến thức của họ. Hai cụm từ rất quan trọng trong định nghĩa này: “một cách có hệ thống” và “nhằm tìm hiểu sự việc”. “Có hệ thống” gợi ý rằng nghiên cứu dựa trên các mối quan hệ logic chứ không chỉ dựa trên niềm tin (Ghauri và Grønhaug, 2010).
Như vậy, nghiên cứu sẽ bao gồm việc giải thích về phương pháp hoặc các phương pháp được sử dụng để thu thập dữ liệu, sẽ trình bày tại sao kết quả thu được lại có ý nghĩa và sẽ giải thích mọi hạn chế liên quan đến chúng. “Tìm hiểu sự việc” gợi ý rằng có rất nhiều mục đích khả thi cho nghiên cứu của bạn. Do đó, nó là một hoạt động, có nghĩa là nó phải được hoàn thành vào một thời điểm nào đó để có thể sử dụng được. Mục đích có thể bao gồm mô tả, giải thích, hiểu, phê bình và phân tích (Ghauri và Grønhaug, 2010).
Tuy nhiên, nó cũng gợi ý rằng bạn có mục đích rõ ràng hoặc tập hợp những ‘điều’ mà bạn muốn tìm hiểu, chẳng hạn như câu trả lời cho một hoặc một số câu hỏi. Lê Thị Thu và cộng sự (2020) đưa ra khái niệm nghiên cứu là hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có hệ thống nhằm nâng cao tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hóa và xã hội, và sử dụng vốn tri thức này để tạo ra những ứng dụng mới. Khái niệm khoa học là hệ thống kiến thức về những định luật, cấu trúc, và cách vận hành của thế giới tự nhiên, được đúc kết thông qua việc quan sát, mô tả, đo đạc, thực nghiệm, phát triển lý thuyết bằng các phương pháp khoa học. Thông qua các phương pháp nghiên cứu có kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu để phân tích nhằm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng.
Khái niệm NCKH là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí 8 nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Nhìn chung, NCKH được định nghĩa trong đề tài này là quá trình hệ thống hóa và phân tích các vấn đề, hiện tượng, hoặc câu hỏi dựa trên phương pháp khoa học để đạt được hiểu biết mới, tạo ra kiến thức mới, hoặc giải quyết các vấn đề trong một lĩnh vực cụ thể. Quá trình này thường bao gồm việc thu thập và phân tích dữ liệu, thử nghiệm các giả thuyết, xây dựng mô hình, và rút ra kết luận dựa trên các bằng chứng và logic khoa học.
Các hình thức nghiên cứu khoa học Theo Điều 5 Thông tư 26/2021/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT quy định về hoạt động NCKH của SV trong cơ sở giáo dục đại học, hoạt động NCKH của SV bao gồm: - Tổ chức triển khai thực hiện các đề tài NCKH cho SV; - Tổ chức các hoạt động hỗ trợ kiến thức, bồi dưỡng nâng cao năng lực NCKH, chuyển giao công nghệ cho SV; - Tổ chức hội nghị, hội thảo và các diễn đàn khoa học; các cuộc thi ý tưởng, dự án khởi nghiệp dành cho SV và hướng dẫn, khuyến khích SV tham gia các giải thưởng, triển lãm khoa học và công nghệ; - Tổ chức các hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ nhằm nâng cao nhận thức đạo đức nghiên cứu, kiến thức về sở hữu trí tuệ cho SV; giới thiệu các ý tưởng, dự án khởi nghiệp, kết quả NCKH của SV với các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài nước; - Khen thưởng và đề xuất khen thưởng, biểu dương SV, tập thể sinh viên và người hướng dẫn có thành tích xuất sắc trong hoạt động NCKH; tôn vinh các tổ chức, cá nhân có nhiều đóng góp trong hoạt động NCKH của SV; - Các hình thức hoạt động khoa học và công nghệ khác của SV theo quy định hiện hành. Một số trường đại học tại Việt Nam cũng đã nêu rõ các hình thức thực hiện NCKH của SV trong các quy định về NCKH của trường. Quyết định số 1357/QĐKH của Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Quốc dân về việc ban hành Quyết định NCKH của SV chỉ rõ NCKH của SV là một nội dung quan trọng trong chương trình đào tạo ở trường đại học, qua đó hình thành tư duy và phương pháp NCKH, thực hiện phương châm “giảng dạy kết hợp với thực nghiệm và NCKH”. NCKH của SV là một hoạt động 9 chính khoá, bao gồm các nội dung chính sau đây: - Trao đổi về phương pháp, kinh nghiệm học tập ở bậc đại học, nghiên cứu trao đổi nội dung các môn học cơ bản thông qua các hoạt động khoa học như trao đổi kinh nghiệm học tập, viết tiểu luận, đề án môn học; - Nghiên cứu thông qua các buổi sinh hoạt khoa học để trao đổi về phương pháp nghiên cứu một đề tài khoa học, viết tiểu luận và đề án môn học tham gia nghiên cứu, phục vụ thực tiễn, viết chuyên đề, luận văn tốt nghiệp; - Ngoài các nội dung hoạt động theo từng giai đoạn, hàng năm SV có thể tham gia vào các cuộc thi chuyên đề, thi học sinh giỏi, nghiên cứu các đề tài khoa học của Trường giao hay các hợp đồng với bên ngoài, dự các buổi sinh hoạt khoa học ở cấp Khoa/Viện, Trường.
Tham gia thực hiện các đề tài khoa học của giảng viên dưới dạng điều tra, khảo sát thu thập số liệu phổ biến khoa học trong quần chúng nhân dân. Theo Quy chế quản lý hoạt động NCKH của người học tại HVNH, các hình thức thực hiện NCKH của người học bao gồm: (1) Tham gia thực hiện đề tài NCKH thuộc lĩnh vực được đào tạo và các lĩnh vực khác phù hợp với khả năng của người học; (2) Công bố các bài báo khoa học trên tạp chí khoa học trong và ngoài nước: công bố các nghiên cứu trong kỷ yếu/ tuyển tập công trình khoa học; trình bày nghiên cứu tại sự kiện khoa học các cấp trong và ngoài nước; (3) Tham gia sinh hoạt chuyên đề, hội thi sáng tạo khoa học và công nghệ (KH&CN), câu lạc bộ khoa học, các cuộc thi, giải thưởng KH&CN trong và ngoài nước; (4) Tham gia các cuộc thi khởi nghiệp, dự án khởi nghiệp, hội chợ, triển lăm trưng bày, giới thiệu thành tựu khoa học kỹ thuật; (5) Tham gia các hình thức hoạt động KH&CN khác. Theo điều 3 Quy định về công tác NCKH của SV trong Đại học Quốc gia Hà Nội, hoạt động của SV dưới các hình thức như: câu lạc bộ khoa học SV, hộ thảo chuyên đề, seminar khoa học, tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học hàng năm của bộ môn, khoa, trường, viện, báo cáo tổng quan, thực nghiệm khoa học, thực hiện đề tài khoá luận tự chọn hay khoá luận tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu, triển khai ứng dụng các tiến bộ khoa học vào thực tiễn đều được coi là những hoạt động NCKH của sinh viên. Nhìn chung, căn cứ theo các quy định kể trên, các hình thức thực hiện và tổ chức hoạt động NCKH SV bao gồm các hoạt động như sau: 10 - Tổ chức và triển khai đề tài NCKH: SV tham gia thực hiện các đề tài NCKH, bao gồm viết tiểu luận, đề án môn học, chuyên đề, và luận văn tốt nghiệp; thực hiện các đề tài khoa học của giảng viên dưới dạng điều tra, khảo sát, thu thập số liệu.
- Hỗ trợ và nâng cao năng lực NCKH: tổ chức các buổi trao đổi về phương pháp NCKH, kinh nghiệm học tập, và viết tiểu luận; cung cấp kiến thức và bồi dưỡng nâng cao năng lực NCKH, chuyển giao công nghệ cho SV. - Hội nghị, hội thảo và diễn đàn khoa học: tổ chức hội nghị, hội thảo, diễn đàn khoa học, và các cuộc thi ý tưởng, dự án khởi nghiệp; hướng dẫn và khuyến khích SV tham gia các giải thưởng, triển lãm khoa học và công nghệ. - Truyền thông và nâng cao nhận thức: tổ chức các hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ nhằm nâng cao nhận thức đạo đức nghiên cứu, kiến thức về sở hữu trí tuệ; giới thiệu các ý tưởng, dự án khởi nghiệp và kết quả NCKH của SV với các nhà đầu tư và doanh nghiệp. - Khen thưởng và tôn vinh: khen thưởng và đề xuất khen thưởng SV, tập thể SV và người hướng dẫn có thành tích xuất sắc trong hoạt động NCKH; tôn vinh các tổ chức, cá nhân có nhiều đóng góp trong hoạt động NCKH của SV.
- Công bố và tham gia sự kiện khoa học: công bố các bài báo khoa học trên tạp chí trong và ngoài nước, công bố các nghiên cứu trong kỷ yếu/tuyển tập công trình khoa học; trình bày nghiên cứu tại các sự kiện khoa học cấp trường, quốc gia, và quốc tế. - Sinh hoạt khoa học và các cuộc thi: tham gia sinh hoạt chuyên đề, hội thi sáng tạo khoa học và công nghệ, câu lạc bộ khoa học, các cuộc thi và giải thưởng khoa học trong và ngoài nước; tham gia các cuộc thi khởi nghiệp, dự án khởi nghiệp, hội chợ, triển lãm trưng bày, giới thiệu thành tựu khoa học kỹ thuật. - Các hình thức khác: tham gia câu lạc bộ khoa học SV, seminar khoa học, các hội nghị, hội thảo khoa học hàng năm của bộ môn, khoa, trường, viện; thực hiện các đề tài khóa luận tự chọn hay khóa luận tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu, triển khai ứng dụng các tiến bộ khoa học vào thực tiễn. Những hoạt động kể trên không chỉ giúp SV phát triển tư duy và phương pháp NCKH mà còn thúc đẩy sự sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm, và khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn.