CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAN TICH TÁC ĐỘNG CUA NĂNG LUC DOI NGŨ KE TOÁN DEN CHAT LƯỢNG HE THONG THONG TIN KE TOÁN TẠI CAC DOANH NGHIEP TREN DIA BAN QUAN CAU GIAY, HA NOI 1.1 Tổng quan nghiên cứu 1.1 Tình hình trong nước 1. Nguyễn Thị Hồng Nga (2014) đã nghiên cứu về các nhân tổ tác động đến chất lượng thông tin kế toán. Trong đó, nhân lực kế toán là yếu tố có tính ảnh hưởng cao nhất đến chất lượng thông tin kế toán trong các doanh nghiệp tại Việt Nam, cụ thê là ảnh hưởng 67. Từ đó, tác giả đã đưa ra kết luận rằng việc sử dụng nhân lực kế toán nhiều doanh nghiệp chưa hợp lý nên dẫn đến tình trạng quá tải trong công việc trong khi năng lực và kinh nghiệm thực tế còn chưa vững.
Vũ Thị Thanh Bình, ThS. Đặng Thi Luân (2017) với bài nghiên cứu “Ảnh hưởng của năng lực đội ngũ kế toán đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp trong điều kiện phát triển bền vững ở Việt Nam”. Nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết về mối liên hệ giữa năng lực đội ngũ kế toán ảnh hưởng đến chất lượng của hệ thống thông tin kế toán. Với 216 kết quả khảo sát, vận dụng phương pháp Cronbach Alpha, sử dụng EFA, hệ số tương quan Pearson, hồi quy phân cấp dé kiểm tra, kết quả cho thấy chất lượng của hệ thống thông tin kế toán bị tác động trực tiếp bởi năng lực đội ngũ kế toán, trong đó thái độ làm việc anh hưởng đáng ké nhất.
Qua đó, nhóm tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị và giải pháp đề cải thiện chất lượng hệ thống thông tin kế toán từ việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên kế toán. Vũ Thị Thanh Bình và các cộng sự (2020) đã di sâu vào nghiên cứu tác động của nguồn nhân lực kế toán đến chất lượng của hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. Nhóm tác giả đã sử dụng thang đo đa chiều gồm chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin và tính hữu dụng. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã kiểm tra các giả thuyết bằng cách sử dụng phân tích nhánh của SEM dựa trên 434 kết quả khảo sát.
Kết quả cho thấy tác động trực tiếp tích cực của nguồn lực kế toán đến chất lượng hệ thống và kết quả phân tích nhánh cũng cho thấy ảnh hưởng của nguồn lực kế toán đến chat lượng và tính hữu ich của thông tin thông qua các biến trung gian. Kết quả cho thay tam quan trọng của nguồn nhân lực kế toán đối với chất lượng của hệ thống thông tin kế toán. Trần Thị Thắm (2021) thông qua nghiên cứu thực nghiệm đã đưa ra ba nhân tố tác động chính lên chất lượng thông tin kế toán trong các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam, là: yếu tố con người, yếu tố văn hoá doanh nghiệp và yếu tố công nghệ thông tin. Trong đó, kiến thức đội ngũ kế toán có ý nghĩa tích cực và có ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán.
Trong bối cảnh công nghệ 4.0, các kế toán viên phải nắm bắt và nâng cao kiến thức, vận dụng kiến thức đề có thể thu thập, xử lý và sử dụng dữ liệu, biết rõ cách vận dụng các phần mềm kế toán nham nâng cao chất lượng hệ thống thông tin kế toán tại đơn vị mình. Lê Thị Bảo Ngọc (2019). Đề tài đi sâu vào nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội. Với phương pháp nghiên cứu định lượng với dữ liệu từ 200 bảng khảo sát hợp lệ do các kế toán viên trong các doanh nghiệp hoàn thành.
Kết quả chạy mô hình hồi quy cho thấy có 4 nhân tố tác động, trong đó mức độ ảnh hưởng tăng dan theo thứ tự: (1) Cơ cấu tổ chức, (2) Huấn luyện và đào tạo người sử dụng HTTTKT, (3) Cam kết tô chức, (4) Văn hóa tô chức. Qua đó, tác giả phân tích, đánh giá thách thức và đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần hạn nâng cao chất lượng hệ thống thông tin kế toán để doanh nghiệp có thể vận hành một cách trơn tru, hiệu quả.2 Tình hình ngoài nước 1. Thaer Abutaber và cộng sự (2014) đã khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống thông tin kế toán trong các cơ sở giáo dục đại học tư thục ở Jordan. Với 54 kết quả khảo sát trả về, kết qua cho thấy nguồn nhân lực, phần cứng, phần mềm va cơ sở dữ liệu có mối quan hệ tích cực đáng ké với hiệu quả của hệ thống thông tin kế toán.
Ngoài ra, nhóm tác giả còn khuyên nghị các nhà nghiên cứu đi sau nên khám phá các biến bé sung và sử dung các phương pháp khác nhau, chang hạn như sử dung dữ liệu thứ cấp sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quan về hiện trạng của hệ thống thông tin kế toán ở Jordan. Henry Chalu (2019), bài nghiên cứu đánh giá các yếu tố liên quan đến các bên liên quan ảnh hưởng đến hiệu quả của Hệ thống thông tin kế toán tại chính quyền địa phương của Tanzania, bao gồm: hỗ trợ quản lý, trình độ của nhân viên kế toán, trình độ học vấn của các ủy viên hội đồng và sự sẵn có của các chuyên gia tư vấn, chuyên môn của kiểm toán viên bên ngoài và sự tham gia của các ủy viên hội đồng trong các vấn đề về hiệu quả HTTTKT. Kết quả cho thấy hỗ trợ quản lý, chuyên môn của kiểm toán viên bên ngoài và sự tham gia của các ủy viên hội đồng là những yếu tố quan trọng nhất dé đảm bảo tính hiệu quả của HTTTKT trong chính quyền địa phương của nước này. Tiếp theo là trình độ của nhân viên kế toán và trình độ học vấn của các ủy viên hội đồng, được coi là những yếu tổ mạnh mẽ cho hiệu quả của HTTTKT.
Tác giả kết luận rằng dé HTTTKT hiệu quả, chính quyền cần thực hiện các biện pháp như nhận thức được tầm quan trọng của tính hiệu quả của HTTTKT trong hoạt động của tô chức, phân bổ đủ nguồn lực và thời gian cho việc phát triển và triển khai HTTTKT, cung cấp đào tạo về HTTTKT trên máy vi tính, thu hút nhân viên có trình độ cũng như nâng cao yêu cầu về trình độ học vấn tối thiểu bắt buộc đối với các cán bộ chính quyên. Paul Gooderham, Anita Ellen Tobiassen và Erik Døving (2019) với nghiên cứu “Kế toán là nguồn tư vấn kinh doanh cho các công ty nhỏ” đã chỉ ra rằng kế toán đóng vai trò quan trọng như cố vấn kinh doanh cho các doanh nghiệp nhỏ bên cạnh VIỆC cung cấp các dịch vụ kế toán cơ bản. Và việc nhìn nhận và đánh giá năng lực của đội ngũ kế toán là vô cùng quan trong dé các công ty nhỏ cải thiện và duy trì các yếu tô vô hình như trọng tâm chất lượng của công ty và chất lượng quan hệ khách hàng bởi kế toán sẽ đưa ra những lời khuyên giúp tình hình tài chính của công ty hiệu quả hơn. Nhóm tác giả đã đưa ra ba dự luật: (1) Mối quan hệ giữa công ty nhỏ và kế toán của nó càng chặt chẽ thì càng có nhiêu khả năng kê toán trở thành cô vân kinh doanh, (2) Càng nhiều nguồn lực, hữu hình và vô hình, một công ty càng có nhiều khả năng kế toán sẽ được sử dụng như một cố vấn kinh doanh và (3) Áp lực cạnh tranh mà công ty phải đối mặt càng lớn thi khả nangké toán sẽ được sử dung như một cô vân kinh doanh.
Ahmed Alhiyari và cộng sự (2013) điều tra các yêu tổ ảnh hưởng đến việc triển khai hệ thống thông tin kế toán và chất lượng thông tin kế toán từ quan điểm của sinh viên Đại học Utara Malaysia với các nhân tố: nguồn nhân lực, chất lượng dữ liệu và cam kết quản lý đối với hệ thống thông tin kế toán và chất lượng thông tin. Các phát hiện chính chỉ ra rằng có mối quan hệ đáng kể giữa cam kết quản lý, chất lượng dữ liệu và hệ thống thông tin kế toán. Tuy nhiên, mối quan hệ không liên quan đáng kế đến nguồn nhân lực. Hơn nữa, mối quan hệ giữa cam kết quản lý và chất lượng dir liệu không liên quan đáng kể đến chất lượng thông tin kế toán nhưng liên quan đáng kê đến hệ thống thông tin kế toán và nguồn nhân lực.
Nghiên cứu khuyến nghị rằng các chương trình dao tạo toàn diện dé có đủ kiến thức về triển khai hệ thong thông tin kế toán và tầm quan trọng của chất lượng đữ liệu, hơn nữa, ban lãnh đạo cấp cao nên hỗ trợ triển khai để tận dụng tối đa lợi ích của hệ thống thông tin kế toán. Nghiên cứu này sử dụng hai thành phần của Mô hình thành công của hệ thống thông tin DeLone & McLean, chang han nhu chat luong hé thống và chất lượng thông tin được xác định là chìa khóa dẫn đến thành công của hệ thống thông tin. Bên cạnh đó, kiểm soát nội bộ và hỗ trợ quan lý cấp cao là những yếu tô quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng HTTTKT. Mục tiêu của nghiên cứu nay là đo lường (1) ảnh hưởng của kiểm soát nội bộ và hỗ trợ của quản lý cấp cao đối với chất lượng HTTTKT và (2) ảnh hưởng của chất lượng HTTTKT đối với chất lượng thông tin kế toán.
Kết quả đã chỉ ra rằng chất lượng HTTTKT có thé được phan ánh bởi các khía cạnh tích hợp, linh hoạt, dễ sử dụng và khả năng tiếp cận. Như vậy, chất lượng thông tin kế toán được phản ánh ở các khía cạnh phù hợp, chính xác, kịp thời và đầy đủ. Bên cạnh đó, chất lượng HTTTKT được nâng cao nhờ việc triển khai hiệu quả hệ thống kiểm soát nội bộ và hỗ trợ của ban lãnh đạo. Việc triển khai HTTTKT đủ điều kiện đã khiến thông tin kế toán cũng phải đủ điều kiện.2 Khái niệm chung về hệ thống thông tin kế toán 1.1 Hệ thống thông tin Kodrat Iman (2015) đưa ra rằng hệ thống thông tin (IS) là một môi trường tích hợp phần cứng, phần mềm và con người, có chức năng chủ yếu là thu thập và xử lý dữ liệu thành thông tin có giá trị bằng cách áp dụng một danh sách các quy trình thu thập dữ liệu.
Dữ liệu là nguyên liệu thô và thông tin là đữ liệu kết quả của quá trình xử lý. Cũng theo Kodrat Iman (2015), các thành phần của một hệ thống thông tin bao gồm môi trường tích hợp từ phần cứng, phần mềm, nguồn nhân lực, dịch vụ, dữ liệu, tri thức, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông.