CHƯƠNG 1 MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ ĐẾN THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế 1. Khái niệm, các hình thức đầu tư và đặc điểm của FDI Theo Luật Đầu tư 2005, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. - Theo thông lệ quốc tế, FDI được phân loại theo một số phương thức dưới đây: Xét theo hướng di chuyển dòng vốn: Luồng vốn FDI đi vào; và Luồng vốn FDI đi ra Cách phân loại này cho phép ta tính được dòng vốn FDI thuần trên cán cân thanh toán quốc tế. Theo mục tiêu, có các loại hình FDI: Đầu tư greenfield hay còn gọi là đầu tư mới1. Đầu tư theo hình thức M&A (sáp nhập và thâu tóm).
FDI theo chiều ngang. FDI theo chiều dọc. 1 Đầu tư mới là một dạng của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đầu tư theo hình thức này tạo ra nhà máy sản xuất mới, tạo thêm việc làm, chuyển giao công nghệ và bí quyết.
5 Theo động lực, có các loại hình FDI: FDI nhằm tìm kiếm nguồn lực. FDI tìm kiếm thị trường. FDI tìm kiếm hiệu quả (giảm chi phí). FDI tìm kiếm tài sản chiến lược.
- Theo Luật Đầu tư của (2005), các hình thức FDI có thể là: Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà ĐTNN. Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà ĐTNN. Đầu tư theo các hình thức: o Hợp đồng hợp tác kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng BCC, BCC: Business Cooperation Contract) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân. o Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (gọi tắt là hợp đồng BOT, BOT: Build Operate Transfer) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.
o Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng BTO, BTO: Build Transfer Operate) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. o Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (gọi tắt là hợp đồng BT, BT: Build Transfer) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để 6 thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT. Đầu tư phát triển kinh doanh (Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh; Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường). Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. Các hình thức đầu tư trực tiếp khác. Nhìn chung, FDI không chỉ đơn thuần đưa vốn ngoại tệ vào nước sở tại, mà còn kèm theo chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và khả năng tiếp cận thị trường thế giới. Tiếp nhận FDI là lợi thế mà thời đại tạo ra cho các nước đang phát triển.
Song, điều quan trọng đặt ra cho các nước tiếp nhận là phải khai thác triệt để các lợi thế có được của nguồn vốn này nhằm đạt được tổng thể cao về kinh tế. Bởi lẽ, FDI cũng có những mặt trái của nó. Nguồn vốn FDI trước sau nó vẫn không thuộc quyền sở hữu và chi phối của nước sở tại. Ngày hôm nay, nhà ĐTNN đưa vốn vào và hết hạn họ lại rút ra.
Trong FDI, chủ đầu tư vẫn toàn quyền sử dụng vốn, nếu là hình thức 100% vốn nước ngoài, còn nếu là hình thức liên doanh thì quyền đó cũng bị chia sẽ dựa theo tỷ lệ góp vốn. Đó là chưa kể đến việc các nước nhận đầu tư còn phải gánh chịu nhiều thiệt thòi do phải áp dụng một số ưu đãi cho các nhà đầu tư hay bị các nhà ĐTNN tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các nhân tố đầu vào, cũng như bị chuyển giao những công nghệ và kỹ thuật lạc hậu. Tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế Tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế biểu hiện qua nguồn vốn này làm tăng tổng số vốn đầu tư xã hội của một nền kinh tế và góp phần vào cân đối phương trình tiết kiệm và đầu tư của quốc gia: DI NFDI DS NFDI NFR CIR Trong đó: DI: Đầu tư trong nước; NFDI: FDI ròng; DS: Tiết kiệm trong nước; NFR: Các nguồn vốn phi FDI; CIR: Thay đổi dự trữ quốc tế 7 Theo mô hình vòng luẩn quẩn và mô hình hai khoảng cách của (Hollis B.Chenery), dòng vốn FDI góp phần làm cân bằng các cân đối vĩ mô của một nền kinh tế 2 và gia tăng tổng vốn đầu tư của một quốc gia. Do đó, nguồn vốn này có tác động nhất định đến tăng trưởng kinh tế.
Thật vậy, theo phương trình Harrod Domar : Tỷ lệ vốn đầu tư Mức tăng GDP = ICOR Dựa vào phương trình trên ta thấy, mức tăng GDP quan hệ thuận với tỷ lệ vốn đầu tư. Với hệ số ICOR nhất định, tỷ lệ vốn đầu tư tăng lên sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng và ngược lại. Theo tổng kết của Ngân hàng Thế giới về sự tăng trưởng ở các nước đang phát triển trong giai đoạn (1965- 1987), nhóm nước tăng trưởng cao, bên cạnh việc sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả (với hệ số ICOR thấp), luôn có tỷ lệ đầu tư lớn hơn nhóm nước có mức tăng trưởng chậm. Điều này không những diễn ra ở các nước đang phát triển mà còn ngay cả ở các phát triển.
Nước Mỹ, do tỷ lệ đầu tư thấp giai đoạn (1965-1989) là nguyên nhân làm cho mức tăng trưởng và thu nhập của Mỹ luôn thấp hơn của Nhật và các nước Tây Âu. Thực vậy, đến năm 1989, tổng số vốn đầu tư trong nước tại Mỹ chỉ bằng 15% GDP, trong khi Nhật và Thụy sỹ là 30-33%. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế 1. Dòng chảy FDI trong bối cảnh toàn cầu FDI trong những thập kỷ qua đã tăng rất nhanh, tốc độ tăng trung bình của toàn thế giới là 24% thời kỳ (1986-1990), 32% vào đầu thập kỷ 90 và đỉnh cao là năm 2001.
Điều này minh chứng rằng, FDI đã và đang trở thành hình thức huy động vốn nước ngoài phổ biến của nhiều nước đang phát triển khi mà các luồng dịch chuyển vốn từ các nước phát triển đi tìm cơ hội đầu tư ở nước ngoài để gia tăng khai thác về lợi thế so sánh. Trong suốt thời gian khủng hoảng và sau khủng hoảng Asian ở các nền kinh tế mới nổi, FDI hầu như đã hồi phục, vẫn là thành phần chính trong các dòng chảy vốn nước ngoài đối với các quốc gia này. Các phương thức khác nhau của FDI, sát nhập và mua lại (M&A) có những tác động khác nhau đến kinh tế trong nước, bao gồm cả về điều kiện tài chính lẫn các mối quan hệ với nước chủ nhà. 2 Các cân đối kinh tế vĩ mô gồm: cân đối tiết kiệm – đầu tư (S – I); cân đối thu – chi ngân sách (T – G) và cân đối xuất – nhập khẩu (E – M).
8 Dòng chảy FDI toàn cầu đạt mức 1.306 tỷ USD trong năm 2006; năm 2007 đạt kỷ lục ở mức 1. Sự gia tăng FDI phần lớn thông qua hình thức M&A. Tự do hóa dòng chảy FDI thông qua thay đổi khung pháp lý và các quy định trong các nền kinh tế đang phát triển đã góp phần nâng cao mức độ đầu tư của FDI. Sau cuộc khủng hoảng nhiều định chế tài chính và phi tài chính rơi vào tình trạng bần túng cũng đã dẫn hồi phục và tăng cường đầu tư trực tiếp thông qua hình thức M&A.
Thêm nữa, những cơ hội về chi phí sản xuất thấp và sự tăng trưởng thị trường trong nước đã trở thành động lực chính cho việc gia tăng thu hút nguồn vốn FDI vào các nền kinh tế đang phát triển. Trong năm 2007, dòng vốn FDI chảy vào các nước đang phát triển đạt ở mức rất cao, trên 500 tỷ USD; trong đó châu Á: 319 tỷ USD, chiếm 64%; châu Mỹ La tinh chiếm 25%. Trong số các nước đang phát triển, chỉ riêng Trung quốc chiếm 18% (83,5 tỷ USD). Theo báo cáo của UNCTAD (2008), giá trị giao dịch theo hình thức M&A ở mức 1.637 tỷ USD, cao hơn 21% so với năm 2000.
UNCTAD khẳng định cuộc khủng hoảng tài chính 2008 có tác động đáng kể dòng chảy FDI toàn cầu. Thách thức đặt ra cho các nền kinh tế thế giới là phát triển môi trường kinh doanh cạnh tranh cao và linh hoạt để thu hút đầu tư trong khi đồng thời vẫn duy trì một khung pháp lý đầy đủ và hợp lý. Tăng trưởng FDI hàng năm 1. ĐVT: % 50 40 30 20 Tăng trưởng hàng năm FDI (%) 10 0 -10 1986 - 90 1991 - 95 1996 - 00 2003 2004 2005 2006 -07 -20 Nguồn: UNCTAD (2000) 1.