phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý đầu tƣ hạ tầng giao thông sử dụng vốn ngân sách nhà nƣớc Chƣơng 2: Thực trạng Quản lý đầu tƣ các công trình giao thông đƣờng bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn NSNN của tỉnh 9 Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác Quản lý đầu tƣ các công trình giao thông đƣờng bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sử dụng vốn NSNN của tỉnh. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƢ CÁC CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ CÁC CÔNG TRÌNH ĐẦU TƢ GIAO THÔNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm, vai trò và đặc điểm của đầu tƣ các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN a.
Khái niệm đầu tư sử dụng vốn NSNN Đầu tƣ trong kinh tế học có phạm vi giới hạn với nghĩa đầu tƣ thông thƣờng. Đầu tƣ là quá trình sử dụng vốn tài chính thực hiện các dự án hình thành cơ sở sản xuất, nhà cửa, cơ sở hạ tầng,… tạo ra cơ sở vật chất của nền kinh tế (Mankiw (2013)). Từ đó có thể hiểu khái niệm đầu tƣ từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc. Đầu tƣ các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN là quá trình sử dụng vốn ngân sách nhà nƣớc để thực hiện các dự án xây dựng các công trình giao thông đƣờng bộ trong nền kinh tế.
Vai trò đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN -”Đây là nguồn đầu tƣ quan trọng và chủ yếu cho cơ sở hạ tầng giao thông trong nền kinh tế." Trong quá trình phát triển kinh tế của các nƣớc trên thế giới, đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng đƣợc quan tâm và thực hiện của yếu bằng nguồn vốn từ nhà nƣớc. Trải qua nhiều thời kỳ dù có đẩy mạnh quá trình xã hội hóa bằng nhiều hình thức khác nhau nhƣ mô hình công tƣ hay tƣ nhân trực tiếp đầu tƣ thì tỷ trọng lớn vẫn thuộc về vốn của nhà nƣớc. Các thành phần kinh tế khác không dễ có đƣợc khả năng tài chính để thực hiện các dự án đầu tƣ này và 11 trong nhiều trƣờng hợp họ có khả năng nhƣng cũng không muốn thực hiện do nhiều vấn đề nhƣ tỷ suất lợi nhuận không cao, rủi ro không nhỏ,. Nguồn đầu tƣ từ ngân sách thƣờng có vai trò rất lớn và chủ yếu trong phát triển cơ sở hạ tầng nhất là khi đầu tƣ vào những nơi, những lĩnh vực kém hấp dẫn nhƣ vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa hay lĩnh vực an sinh xã hội; - Định hƣớng đầu tƣ các công trình giao thông trong nền kinh tế Do nhu cầu đầu tƣ cho cơ sở hạ tầng rất lớn và giới hạn ngân sách của Chính phủ nên giải pháp xã hội hóa đầu tƣ luôn đƣợc quan tâm.
Nhƣng để thu hút và kêu gọi các nhà đầu tƣ khác thì nguồn đầu tƣ từ ngân sách thƣờng coi nhƣ khoản đầu tƣ mồi và kích thích các nhà đầu tƣ khác. - Đầu tƣ các công trình giao thông sử dụng ngân sách nhà nƣớc góp phần tăng tích lũy. "Chi đầu tƣ từ ngân sách trực tiếp làm gia tăng số lƣợng và chất lƣợng tài sản cố định, gia tăng giá trị tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Vấn đề này thể hiện rõ nét thông qua việc nhà nƣớc tăng cƣờng đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nhƣ: Giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục,…Sự tăng lên về số lƣợng và chất lƣợng của hàng hoá công này là cơ sở và nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân trên các mặt: Phát triển cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực, các vùng kinh tế trên lãnh thổ quốc gia; nâng cao chất lƣợng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, thu hút đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài và tạo động lực, cú hích cho sự tăng trƣởng.
Đặc điểm đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN - Là khoản chi tích lũy hay đầu tƣ phát triển cho nền kinh tế Kết quả đầu tƣ cơ sở hạ tầng là hạ tầng kinh tế kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Nếu xem xét dƣới góc độ nhân tố sản xuất thì đây chính là bộ phận vốn sản xuất của nền kinh tế, chúng quyết định sự gia tăng mức sản lƣợng của nền 12 kinh tế nên khoản chi này sẽ làm tăng tích lũy vốn sản xuất. Trong kinh tế học phát triển khoản đầu tƣ này gọi là đầu tƣ phát triển. - Quy mô và cơ cấu chi đầu tƣ cho cơ sở hạ tầng giao thông của ngân sách nhà nƣớc không cố định và phụ thuộc vào chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của nhà nƣớc trong từng thời kỳ và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tƣ nhân Bùi Quang Vinh (2013).
"Kinh nghiệm phát triển cho thấy, trong thời kỳ đầu thực hiện chiến lƣợc công nghiệp hoá, quy mô chi đầu tƣ công của ngân sách nhà nƣớc chiếm tỷ lệ khá lớn so với tổng đầu tƣ xã hội. "Ở giai đoạn này, do khu vực kinh tế tƣ nhân còn yếu trong khi chính sách thu hút vốn đầu tƣ chƣa hoàn thiện nên nhà nƣớc phải tăng cƣờng quy mô đầu tƣ từ ngân sách nhà nƣớc để tạo đà cho tiến trình công nghiệp hoá. Đi đôi với sự gia tăng quy mô thì cơ cấu chi đầu tƣ cũng rất đa dạng để đáp ứng với nhu cầu thực tiễn đặt ra, nhƣ chi hỗ trợ, chi thực hiện chƣơng trình mục tiêu kinh tế - xã hội,…Quy mô chi đầu tƣ công của nhà nƣớc sẽ giảm dần theo mức độ thành công của chiến lƣợc công nghiệp hoá và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tƣ nhân. Khi đó chi đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc chủ yếu tập trung vào điều chỉnh nhằm đạt tới sự ổn định của kinh tế vĩ mô và các khoản chi cho vay chỉ định, chi thực hiện chƣơng trình mục tiêu kinh tế - xã hội sẽ đƣợc cắt giảm.
- Chi đầu tƣ các công trình giao thông b ằ n g N S N N phải gắn chặt chi thƣờng xuyên nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tƣ. Sự phối hợp không đồng bộ giữa chi đầu tƣ với chi thƣờng xuyên của ngân sách sẽ dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí để duy tu, sửa chữa, bảo dƣỡng cơ sở hạ tầng. Điều này sẽ làm giảm hiệu quả khai thác và sử dụng tài sản đầu tƣ. Sự gắn kết giữa 2 nhóm chi tiêu này sẽ khắc phục tình trạng đầu tƣ tràn lan, không tính đến hiệu quả khai thác (Bùi Mạnh Cƣờng (2007)).
13 "Nội dung chi đầu tƣ công gồm 4 lãnh vực: Chi xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn; chi hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nƣớc; chi cho quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện tín dụng đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc; chi dự trữ nhà nƣớc. Trong đó, chi đầu tƣ xây dựng kết cấu hạ tầng là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất và đƣợc thực hiện theo phƣơng thức không hoàn trả. Chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn tài chính của nhà nƣớc hƣớng vào củng cố và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, các ngành công nghiệp cơ bản, các công trình kinh tế có tính chất chiến lƣợc, các công trình trọng điểm phục vụ phát triển văn hoá - xã hội, phúc lợi công cộng. Thực chất loại chi này nhằm đảm bảo tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định cho các ngành sản xuất vật chất và không sản xuất, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
"Sự tham gia của nhà nƣớc vào các lĩnh vực nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng, bởi nó nhằm kích thích đầu tƣ, giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trƣờng, tăng cƣờng khả năng cạnh tranh đồng thời tạo ra các trung tâm kinh tế. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý đầu tƣ các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN a. Khái niệm quản lý đầu tư các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN Theo Phan Huy Đƣờng (2015) quản lý chính là việc tác động định hƣớng lên một hệ thống nào đó nhằm đảm bảo hệ thống đó phát triển một cách trật tự và phù hợp với những quy luật đƣợc hƣớng tới. Trên cơ sở này có thể hiểu quản lý nhà nƣớc là một hình thức của quản lý xã hội tuy nhiên có chứa đựng tính quyền lực của nhà nƣớc và sử dụng chính quyền lực đó để 14 điều chỉnh quan hệ nhằm đảm bảo mục tiêu duy trì và phát triển một cách trật tự.
Từ đó đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Quản lý đầu tƣ các công trình giao thông bằng nguồn vốn NSNN là một bộ phận của đầu tƣ công nên cũng cần hiểu khái niệm về quản lý đầu tƣ công (Hồ Ngọc Hy (2007)). Quản lý đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án công, ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án, kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn Nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí Ngân sách nhà nước; đảm bảo hoạt động đầu tư công đạt được tốt nhất mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với chi phí thấp nhất. Chỉ khi đáp ứng được những yêu cầu này thì hoạt động quản lý đầu tư công mới được coi là có hiệu quả Học viện Hành chính (2007).
Từ đó có thể rút ra khái niệm quản lý đầu tƣ các công trình giao thông sử dụng vốn NSNN nhƣ sau: Quản lý đầu tƣ xây dựng HTGT là các hoạt động chấp hành, điều hành công tác đầu tƣ xây dựng HTGT có tính tổ chức; đƣợc thực hiện, thi hành trên cơ sở các quy định của pháp luật; đƣợc bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc.