CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm về đầu tư và dự án đầu tư 1.1 Khái niệm đầu tư Theo Khoản 5, Điều 3 Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014 thì: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”. Theo quan điểm của chủ đầu tư: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh, để từ đó thu được số vốn lớn hơn số vốn đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận. Theo quan điểm xã hội: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia.2 Khái niệm dự án đầu tư Theo Khoản 5, Điều 3 Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2016 thì: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.
Theo Khoản 15, Điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2015 thì: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”. Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở. Khi đầu tư xây dựng công trình, chủ đầu tư xây dựng công trình phải lập dự án để xem xét, đánh giá hiệu quả về kinh tế - xã hội của dự án.
Dự án đầu tư xây dựng công trình phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu sau đây: - Phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch xây dựng. - Có phương án thiết kế và phương án công nghệ phù hợp. 6 - An toàn trong xây dựng, vận hành, khai thác, sử dụng công trình, an toàn phòng, chống cháy, nổ và bảo vệ môi trường. - Đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án.3 Phân loại dự án đầu tư Có nhiều loại dự án khác nhau về mục đích, tính chất, quy mô, đặc điểm và mức độ phức tạp.
Để phân tích, đánh giá và quản lý các dự án, người ta tiến hành phân loại các dự án đầu tư. Có rất nhiều cách phân loại các dự án đầu tư khác nhau tuỳ theo các mục đích quản lý và sử dụng mà dự án được phân thành các loại: theo quy mô, tính chất, loại công trình xây dựng và nguồn vốn sử dụng. Phân loại theo quy mô, tính chất và loại công trình xây dựng Dự án được phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình xây dựng của dự án gồm dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C theo các tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công. Căn cứ vào tính chất, dự án đầu tư công được phân loại như sau: Dự án có cấu phần xây dựng là dự án đầu tư: xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án; Dự án không có cấu phần xây dựng là dự án mua tài sản, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị, máy móc và dự án khác.
Về phương diện quản lý, tuy có nhiều nét chung, song do đặc điểm của các nhóm là khác nhau nên khi quản lý cần áp dụng phương pháp và công cụ quản lý khác nhau. Các dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B thường được đặt ra nhiều vấn đề về quản lý cần được nghiên cứu và giải quyết. Các dự án nhóm C cho phép áp dụng một cách đơn giản và có hiệu quả các phương pháp định lượng. Phân loại theo mục đích Căn cứ vào các chức năng hay mục đích của các dự án, người ta chia dự án thành: Dự án đầu tư chiều sâu; Dự án đầu tư mở rộng; Dự án đầu tư mới.
Việc phân loại theo cách này chúng ta thấy mức độ phức tạp và mức độ rủi ro của các dự án tăng dần. Phân loại theo mối quan hệ giữa các dự án Căn cứ mối quan hệ giữa các dự án, người ta chia làm hai nhóm dự án: Dự án độc lập: Những dự án được coi là độc lập với nhau về mặt kinh tế, nếu dự án này được chấp thuận hay từ chối sẽ không ảnh hưởng đế dòng tiền của 7 dự án khác. Khi hai dự án được coi là độc lập về mặt kinh tế có nghĩa là quyết định đầu tư dự án này không ảnh hưởng đến quyết định đầu tư dự án khác. Dự án đầu tư phụ thuộc: Các dự án đầu tư phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế có nghĩa là dòng tiền của dự án này sẽ chịu ảnh hưởng khi quyết định đầu tư dự án khác.
Trong các dự án phụ thuộc người ta chia ra hai loại: Dự án đầu tư bổ sung và dự án đầu tư thay thế. Một dự án được gọi là dự án bổ sung cho một dự án khác khi đầu tư dự án đó sẽ làm tăng lợi ích dự kiến của dự án khác. Một dự án được coi là thay thế một dự án khác nếu đầu tư dự án đó sẽ làm cho lợi ích dự kiến thu được của dự án kia giảm xuống. Trong trường hợp thay thế cao nhất là khi quyết định đầu tư dự án này sẽ làm cho lợi ích của dự án kia bị triệt tiêu hoàn toàn hay quyết định đầu tư dự án này sẽ bác bỏ tất cả các dự án còn lại, các dự án này được gọi là các dự án loại trừ nhau.
Phân loại theo nguồn vốn đầu tư Dự án đầu tư công là dự án đầu tư sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công, bao gồm: Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; Dự án sử dụng vốn công trái quốc gia; Dự án sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ; Dự án sử dụng vốn trái phiếu chính quyền địa phương; Dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài; Dự án sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; Dự án sử dụng vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước; Dự án sử dụng các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư. Dự án sử dụng nguồn vốn nhà nước ngoài ngân sách là dự án sử dụng nguồn vốn nhà nước theo quy định của pháp luật nhưng không bao gồm vốn ngân sách nhà nước. Dự án sử dụng nguồn vốn khác (không sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài ngân sách) bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng vốn hỗn hợp nhiều nguồn vốn.4 Các giai đoạn của dự án đầu tư xây dựng Chủ đầu tư xây dựng (sau đây gọi là chủ đầu tư) là cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư xây dựng. Để thực hiện đầu tư xây dựng công trình chủ đầu tư cần tiến hành các trình tự, giai đoạn thực hiện sau: Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: Tổ chức lập, thẩm định, phê 8 duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án.
Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác. Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng. Tùy thuộc điều kiện cụ thể và yêu cầu kỹ thuật của dự án, người quyết định đầu tư quyết định trình tự thực hiện tuần tự hoặc kết hợp đồng thời đối với các hạng mục công việc nêu trên.2 Một số khái niệm trong quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể để tạo ra các sản phẩm là các công trình có quy mô, trình độ kỹ thuật và năng lực sản xuất hoặc năng lực phục vụ nhất định. Xây dựng cơ bản là quá trình đổi mới, tái sản xuất đơn giản và mở rộng các tài sản cố định của các ngành sản xuất vật chất cũng như phi sản xuất vật chất nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân.
Xây dựng cơ bản (XDCB) được thực hiện dưới các phương thức: xây dựng mới, xây dựng lại, khôi phục, mở rộng và nâng cấp các tài sản cố định (Lê Chí Công (2016).