Chương 1 đã giới thiệu các vấn đề tổng quan về đề tài, lý do hình thành đề tài và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2 này sẽ giới thiệu về các khái niệm mối quan hệ người mua – nhà cung cấp bao gồm các khía cạnh lòng tin, giao tiếp,mối quan hệ giữa các cá nhân, hợp tác, sự phụ thuộc vào nhà cung cấp; kết quả thực hiện chuỗi cung ứng … Bên cạnh đó, dựa trên các nghiên cứu đã thực hiện, cơ sở lý thuyết của mô hình liên quan đến đề tài để đề xuất mô hình nghiên cứu.1 CHUỖI CUNG ỨNG VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CỦA CHUỖI CUNG ỨNG (SUPPLY CHAIN PERFORMANCE) Theo Asgari và cộng sự (2016) thì thuật ngữ chuỗi cung ứng lần đầu tiên đƣợc đặt ra vào năm 1982. Những năm về sau, vấn đề quản lý chuỗi cung ứng ngày càng đƣợc quan tâm nhiều hơn với rất nhiều các khía cạnh đƣợc tiến hành nghiên cứu và ứng dụng. Chuỗi cung ứng đƣợc định nghĩa là một hệ thống bao gồm ngƣời mua, nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà bán lẻ, nhà phân phối và ngƣời dùng cuối nơi hàng hóa / dịch vụ hoặc vật chất, tài chính và các luồng thông tin kết nối với nhau ngƣời tham gia theo cả hai hƣớng.
Chuỗi cung ứng tham gia vào toàn bộ chu kỳ sống của sản phẩm, từ thu mua nguyên vật liệu đến sản xuất, phân phối, dịch vụ khách hàng và cuối cùng là tái chế và thải bỏ sản phẩm (Guide và cộng sự, 2003). Khái niệm chuỗi cung ứng đã nhận đƣợc sự quan tâm đáng kể khi các doanh nghiệp trong các ngành khác nhau đã chứng kiến những giá trị đƣợc tạo ra thông qua sự tích hợp và điều phối cung, cầu và các mối quan hệ nhằm đáp ứng khách hàng trong cách cƣ xử hiệu quả và có lợi (Simatupang và cộng sự, 2004; Wong và cộng sự, 2005). Ngƣời ta đã lập luận rằng việc đo lƣờng hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng có thể tạo điều kiện để hiểu rõ hơn về chuỗi cung ứng, ảnh hƣởng tích cực đến hành vi của các tác nhân và cải thiện hiệu suất tổng thể của nó (Cheng, 2004). Kết quả thực hiện chuỗi cung ứng là một vấn đề quan trọng và có nhiều mặt trong quản lý chuỗi cung ứng.
Đo lƣờng kết quả đƣợc định nghĩa là thông tin liên quan đến kết quả của quá trình và sản phẩm, cho phép đánh giá và so sánh liên quan đến mục tiêu, mẫu, kết quả trong quá khứ và với các quá trình và sản phẩm khác (Petrovic-Lazarevic và Sohal, 2002). Điều quan trọng là phải xác định những yếu tố quyết định thúc đẩy sự thành công của chuỗi cung ứng. Để đạt đƣợc một chuỗi cung ứng hiệu quả, nhiều công ty đã nhận ra tầm quan trọng của việc đánh giá hoạt động và những biện pháp nào nên đƣợc sử dụng. Các mục tiêu của đo lƣờng kết quả là nâng cao hiệu quả và hiệu suất của chuỗi cung ứng (Beamon, 1999; Gunasekaran và cộng sự, 2001), đồng thời xem xét các mục tiêu tổng thể của chuỗi cung ứng và các thƣớc đo sẽ đƣợc áp dụng (Gunasekaran và cộng sự, 2001).
Theo Gunasekaran và cộng sự (2001) các thang đo đƣợc xác định là tài chính và phi tài chình đƣợc dùng để đánh giá về kết thực hiện của hoạt động chuỗi cung ứng. 8 Thang đo tài chình gồm: tỷ lệ tăng trƣởng doanh số và khả năng sinh lời. Tỷ lệ tăng trƣởng doanh số và khả năng sinh lời, thƣờng đƣợc sử dụng làm yếu tố dự báo hiệu quả tài chính (Bourne, 2000; Gales và Blackburn, 1990; Tan và cộng sự, 1999). Tỷ lệ tăng trƣởng bán hàng đƣợc đo bằng phần trăm thay đổi doanh số hàng năm trong ba năm qua (Gales và Blackburn 1990; Tan và cộng sự, 1998; Tan và cộng sự, 1999).
Khả năng sinh lời đề cập đến lợi nhuận bán lẻ trung bình mà nhà bán lẻ có thể kiếm đƣợc từ quần áo thể thao. Nghiên cứu của Dollinger và Kolchin (1986) cho thấy có mối tƣơng quan thuận chặt chẽ giữa hoạt động mua hàng và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Thang đo phi tài tài chình: Các biện pháp phi tài chình đặc trƣng cho bản chất của tính linh hoạt và dịch vụ khách hàng trong chuỗi cung ứng. Linh hoạt đề cập đến khả năng cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ sẵn có để đáp ứng nhu cầu cụ thể của khách hàng (Gunasekaran và cộng sự, 2001).
Tính linh hoạt là thƣớc đo chình để đánh giá hoạt động của chuỗi cung ứng và thƣờng đƣợc coi là phản ứng đối với sự không chắc chắn của môi trƣờng (Beamon, 1999; Suarey và cộng sự, 1991; Vickery và cộng sự, 1999). Hiệu quả giao hàng: ngày nay, khách hàng đang nâng cao kỳ vọng về dịch vụ của họ liên quan đến thời gian giao hàng ngày càng ngắn (Fawcett và Marnan, 2001). Stewart (1995) kết luận rằng hiệu quả giao hàng là chía khóa đầu tiên cho sự xuất sắc của chuỗi cung ứng và là động lực của sự hài lòng của khách hàng trong quản lý chuỗi cung ứng. Mục đìch chình của dịch vụ khách hàng thƣớc đo là để đo lƣờng cách các nhà cung cấp đang phục vụ (hoặc không phục vụ) các khách hàng (Hausman, 2000).
Còn theo Lee (2007), tin cậy, hiệu quả và linh hoạt là 3 yếu tố để đánh giá kết thực hiện chuỗi cung ứng. Hiệu quả và hiệu suất đã đƣợc sử dụng làm các chỉ số chính đo lƣờng hiệu suất chuỗi cung ứng (Beamon, 1999; Holmberg, 2000; Li và cộng sự, 2006; Tan và cộng sự, 1998). Hai chỉ số nổi tiếng là khả năng kiểm soát chi phí và cấu trúc độ tin cậy về kết quả. Chỉ báo kiểm soát chi phí bao gồm các hoạt động nhƣ chi phì xuất nhập kho, chi phì lƣu kho, chi phì lƣu giữ hàng tồn kho và tăng vòng quay tài sản.
Chỉ báo độ tin cậy giải quyết các lĩnh vực nhƣ tỷ lệ hoàn thành đơn hàng, lƣợt hàng tồn kho, lƣợng hàng an toàn, lƣợng hàng tồn kho và số lƣợng yêu cầu bảo hành sản phẩm.2 MỐI QUAN HỆ NGƢỜI MUA – NHÀ CUNG CẤP (BUYER – SUPPLIER RELATIONSHIP) Quản lý chuỗi cung ứng đã trở thành thông lệ phổ biến trong các ngành vì nó giải quyết liên minh chiến lƣợc lâu dài, quan hệ đối tác giữa nhà cung cấp và ngƣời mua, quản lý hậu cần giữa các tổ chức, lập kế hoạch chung, kiểm soát hàng tồn kho và chia sẻ thông tin. Và mối quan hệ giữa ngƣời mua và nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng là một trong những yếu tố quan trọng nhất của tích hợp chuỗi cung ứng. Thiết lập và quản lý các mối quan hệ hiệu quả tại mọi mắt xích trong chuỗi cung ứng đang trở thành điều kiện tiên quyết của sự thành công trong kinh doanh. Mặc 9 dù Reid và Plank (2000) cho rằng mối quan hệ mua hàng đƣợc coi là một chức năng không đáng kể trong một công ty trong nhiều năm, trong hai thập kỷ qua, ngƣời mua – nhà cung cấp mối quan hệ ngày càng đƣợc thừa nhận với là một yếu tố quan trọng của quan hệ đối tác chuỗi cung ứng (Fukukawa and Moon, 2004; Paulraj và cộng sự, 2008; Terpend và cộng sự, 2008).
Cốt lõi của việc đạt đƣợc một chuỗi cung ứng thành công là thông qua việc quản lý hiệu quả các mối quan hệ giữa ngƣời mua và nhà cung cấp. Do đó, để ngƣời mua và nhà cung cấp đạt đƣợc mối quan hệ bền vững và thành công hơn, cả hai phải nhận ra lợi ích mà họ sẽ thu đƣợc từ việc quản lý mối quan hệ nhƣ vậy (Ambrose và cộng sự, 2010). Quản lý mối quan hệ đã đƣợc nhấn mạnh nhƣ một chiến lƣợc để giải quyết các rủi ro tiềm ẩn và nâng cao giá trị giữa nhà cung cấp và khách hàng của họ (Slolecki, 2013; Zineldin, 2000). Theo Khan (2015), trong nghiên cứu ngành sản xuất công nghiệp sản xuất ở Trung Quốc, tác giả khái niệm mối quan hệ giữa ngƣời mua và nhà cung cấp là mối quan hệ cùng có lợi giữa ngƣời mua và nhà cung cấp liên quan đến khía cạnh lòng tin, mối quan hệ cá nhân.
Năm khìa cạnh nổi bật của mối quan hệ ngƣời mua-nhà cung cấp: lòng tin, giao tiếp, mối quan hệ giữa các cá nhân (guanxi), hợp tác và phụ thuộc quyền lực đã đƣợc thảo luận trong nghiên cứu của Hsiao (2002) ở chuỗi cung ứng ở các điểm bán lẻ ở Đài Loan. Theo Cheng và cộng sự (2017), các khía cạnh đặc trƣng cho mối quan hệ ngƣời mua và nhà cung cấp trong ngành nhiên liệu sinh học của Mỹ bao gồm nhƣ: giao tiếp, lòng tin, sự cam kết, quyền lực.1 Lòng tin (Trust) Lòng tin là một yếu tố quan trọng trong việc duy trì mạng lƣới kinh doanh phức tạp và đóng góp vào sự thành công của một công ty trong cộng đồng doanh nghiệp. Lòng tin đã đƣợc điều tra rộng rãi trong nghiên cứu quản lý (McEvily và cộng sự, 2003; Capaldo, 2014) và một số định nghĩa và phân loại về lòng tin đã đƣợc đƣa ra trong các nghiên cứu trƣớc đây (Seppänen và cộng sự, 2007). Sự tin tƣởng có thể đƣợc định nghĩa là sự sẵn sàng của các đối tác trong quan hệ để nỗ lực, chấp nhận rủi ro và hy sinh một số quyền lực và quyền kiểm soát đối với đối tác khác cho sự thành công của mối quan hệ (Gullett và cộng sự, 2009; Kwon và Suh, 2005; Doney và Canon, 1997; Spekman và cộng sự, 1998; Morgan và Hunt, 1994).
Lòng tin đƣợc mô tả là ―sự sẵn sàng của một bên dễ bị ảnh hƣởng bởi các hành động của bên khác ‖ (Mayer và cộng sự, 1995). Lòng tin là một lực lƣợng rất mạnh có tác động nhƣ vậy về các quyết định, hành động và dẫn đến hiệu quả từ cả bên cung cấp và bên mua. Nhiều nghiên cứu cho rằng các mối quan hệ hợp tác dựa trên các hình thức trao đổi quan hệ đƣợc đặc trƣng bởi mức độ tin cậy cao (Vachon, 2008). Narayanan (2015) nói rằng tác động của sự hợp tác đối với kết quả trong mối quan hệ tìm nguồn cung ứng giữa ngƣời mua và nhà cung cấp có thể tích cực, tiêu cực hoặc trung tính tùy thuộc vào mức độ tin cậy.
Cụ thể, trong mối quan hệ ngƣời mua - nhà cung cấp, mức độ tin cậy cao sẽ tạo ra động lực để mở rộng giao tiếp và sẵn sàng chấp nhận rủi ro giữa các công ty đối tác. Anderson và Narus (1990) định nghĩa giao tiếp là ―sự chia sẻ chính thức cũng nhƣ không chình thức thông tin có ý nghĩa và kịp thời giữa các công ty‖.