PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Liệu pháp nghệ thuật đã sớm đƣợc sử dụng một cách chuyên nghiệp và rộng rãi tại các quốc gia trên thế giới, nhất là châu Âu và châu Mỹ. Ở nhiều nƣớc, liệu pháp nghệ thuật đã tách riêng ra thành một phân nhánh độc lập với Tâm lý học mà ngƣời hành nghề đƣợc gọi bằng một tên gọi riêng: Art therapist (nhà trị liệu nghệ thuật). Hiệp hội những nhà trị liệu nghệ thuật tại Anh đã đƣợc thành lập cách đây hơn 50 năm 1, tại Đức là hơn 30 năm2 còn ở Pháp3 và Úc4 là hơn 25 năm… tất cả đến nay vẫn liên tục đƣợc mở rộng, phát triển không ngừng.
Một số quốc gia châu Á đều đã có những nghiên cứu cũng nhƣ sự phát triển nhất định ở lĩnh vực này. Điển hình nhƣ tại Đài Loan5 và Hongkong 6 , Hiệp hội những nhà trị liệu nghệ thuật đƣợc thành lập hơn 10 năm, ở Hàn Quốc là 9 năm. Ngoài ra tác giả Siu Mei Chan7 của Đài Loan cùng cộng sự đã xuất bản tác phẩm Art Therapy in Asia-To the bone or wrapped in silk đƣợc giới chuyên môn đánh giá cao. Trong khi đó tại Việt Nam, các cơ sở đào tạo về Tâm lý học chính thống trong nƣớc vẫn chƣa có chuyên gia về liệu pháp nghệ thuật và chuyên môn này vẫn còn bị bỏ ngỏ trong chƣơng trình đào tạo.
Cùng với đó, đến nay vẫn chƣa có công trình hoàn thiện nào đặt liệu pháp nghệ thuật làm khách thể nghiên cứu, cũng nhƣ thực thi đánh giá tác động của nó lên các trƣờng hợp rối nhiễu tâm lý cụ thể. Tỉ lệ áp dụng các phƣơng pháp trị liệu sử dụng lời nói vẫn chiếm đa số. Tuy vậy, nhiều nghiên cứu và khảo sát về văn hóa đã cho thấy ngƣời Việt có ―văn hóa âm tính‖ 8, thụ động và ít biểu lộ cảm xúc cũng nhƣ nói lên suy nghĩ thật… Chính vì thế, việc trị liệu sử dụng các liệu pháp ngôn từ này có 1 British Association Art Therapist (BAAT) http://www.html 2 Germany Association of Art Therapy http://www.htm 3 French Federation of Art Therapists (FFAT) http://www.org/ 4 Australian and New Zealand Arts Therapy Association(AZABTA) http://anzata.org/aboutanzata/ 5 Taiwan Art Therapy Association http://www.tw/about_en.php 6 Hong Kong Association of Art Therapists http://hkaat.com/home/ 7 Elisabeth Burgoyne (2013), The Art Therapy In Asia _ An Invitation And Seriously Encouragement For Asian Therapist 8 Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam -2- những hạn chế nhất định, và liệu pháp nghệ thuật có thể đƣợc xem là một phƣơng thức khả dĩ để giải quyết vấn đề này. Song song với những điều trên, hơn 5 năm trở lại đây đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng stress ở ngƣời Việt Nam.
Các nghiên cứu này trải rộng ở nhiều độ tuổi và mảng đối tƣợng: từ trẻ em đến ngƣời trƣởng thành, từ học sinh - sinh viên các cấp lớp đến ngƣời lao động ở các ngành nghề đặc thù. Có thể kể đến các công trình nhƣ ―Đánh giá mức độ căng thẳng tâm lý của học sinh tiểu học ở Hà Nội‖ của tác giả Vũ Thu Hà 9,đề tài đã đƣa ra tỉ lệ học sinh bị stress tƣơng ứng với các mức độ khác nhau và tƣơng quan với cách ứng phó với stress của trẻ; hai tác giả Hồ Hữu Tính và Nguyễn Doãn Thành 10 đã nghiên cứu ―Thực trạng stress lo âu và những liên quan đến lo âu ở học sinh cấp 3 trƣờng THPT Phan Bội Châu, Phan Thiết, Bình Thuận‖, kết quả thống kê thể hiện 38% học sinh đƣợc khảo sát có biểu hiện stress lo âu. Công trình cũng cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa stress lo âu với giới tính và học lực, giữa stress lo âu với sức khỏe ngƣời thân và với những áp lực, kỳ vọng học tập từ gia đình, giữa stress lo âu với những áp lực học tập và áp lực thi cử, giữa stress lo âu với những cạnh tranh trong học tập, với ngoại hình bản thân, với những bệnh lý liên quan đến học tập và với việc không đều đặn tập thể dục thể thao, giữa stress lo âu với việc không có bạn bè thân và với những lo lắng về an ninh nơi ở. Cùng nghiên cứu về mảng đối tƣợng vị thành niên, công trình ―Các tác nhân gây Stress và cách ứng phó với stress của trẻ vị thành niên‖ của tác giả Đỗ Thị Lệ Hằng 11 đã thống kê đƣợc 3 nguồn gây stress chính yếu ở trẻ và cho thấy xu hƣớng ứng phó thiên về hành động của nhóm đối tƣợng này khi gặp stress.
Công trình ―Nghiên cứu mức độ biểu hiện về Stress ở ngƣời trƣởng thành‖ của tác giả Nguyễn Thị Hải 12 thực hiện vào tháng 8/2008 trên 115 ngƣời ở độ tuổi từ 20 đến 40 trên địa bàn Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy hơn 91% mẫu khảo sát luôn ở trong tình trạng stress với mức độ ―căng thẳng cao‖, đồng thời nghiên cứu chứng minh đƣợc giả thuyết stress có liên quan mật thiết đến nghệ nghiệp của cá thể. Tập trung vào nhóm đối tƣợng ngƣời lao 9 Vũ Thu Hà (2012) ―Đánh giá mức độ căng thẳng tâm lý của học sinh tiểu học ở Hà Nội‖ 10 Hồ Hữu Tính và Nguyễn Doãn Thành (2009), Thực trạng stress lo âu và những liên quan đến lo âu ở học sinh cấp III trƣờng THPT Phan Bội Châu, Phan Thiết, Bình Thuận 5/2009 11 Đỗ Thị Lệ Hằng (2009), ―Các tác nhân gây Stress và cách ứng phó với stress của trẻ vị thành niên‖ 12 Nguyễn Thị Hải (2008), Nghiên cứu mức độ biểu hiện về Stress ở ngƣời trƣởng thành -3- động, Đào Thị Duy Duyên13 đã có công trình nghiên cứu ―Vấn đề stress của công nhân ở một số khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh‖ tập trung làm rõ thực trạng hiểu biết về stress, thực trạng biểu hiện stress, mức độ stress và cách ứng phó với stress của công nhân tại các khu chế xuất-khu công nghiệp này. Nghiên cứu stress ở các đối tƣợng ngành nghề đặc thù khác có thể kể đến tác giả Ngô Thị Kim Dung14 với với công trình nghiên cứu stress ở cán bộ quản lý và Đỗ Duy Môn15 với nghiên cứu các biện pháp giảm stress đối với đối tƣợng chiến sĩ ở đơn vị quân đội.
Có thể nói, kết quả của các nghiên cứu trên tựu trung lại đều cho thấy một tỉ lệ dân số đáng kể đang phải chịu áp lực, căng thẳng trong cuộc sống. Đặc biệt, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành công văn số 9971/BGD&ĐT-HSSV về Triển khai công tác tư vấn cho học sinh, sinh viên (năm 2005) và tiếp đó Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM đã ra quyết định số 1090/QĐ-GDĐT-Thân chủ về Ban hành Quy định tạm thời về tổ chức và hoạt động công tác tư vấn trường học (năm 2012) dựa trên những báo cáo số liệu về mức độ stress và trầm cảm học đƣờng tại các thành phố lớn đã cho thấy, thực trạng về stress và nhu cầu cần đƣợc tham vấn-trị liệu của các đối tƣợng trên là một vấn đề hết sức bức thiết của xã hội. TVTL là một trong những nhiệm vụ lâm sàng cốt lõi của Tâm lý học. Việc ứng dụng và sử dụng những lý thuyết, phƣơng pháp trị liệu phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong quá trình làm việc của nhà trị liệu.
Trong bối cảnh chung về sự gia tăng đáng kể tình trạng stress trong xã hội, việc nghiên cứu đơn thuần về thực trạng stress và hiểu biết cũng nhƣ cách ứng phó của các cá thể với stress có thể xem là một cách tiếp cận đã cũ và khá thụ động. Cần có những cách tiếp cận mới hơn, thực tiễn hơn về vấn đề này, cụ thể là những nghiên cứu về các phƣơng thức can thiệp khả dĩ, đi vào đánh giá đƣợc hiệu quả tác động cuả nó đối với tình trạng stress nhằm có những chiến lƣợc ứng phó thiết thực, phù 13 Đào Thị Duy Duyên (2010), ―Vấn đề stress của công nhân ở một số khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh‖ 14 Ngô Thị Kim Dung (2010), ―Stress và những giải pháp giảm stress ở cán bộ quản lý‖ 15 Đỗ Duy Môn (2008) với nghiên cứu ―Một số biện pháp nhằm giảm hiện tƣợng stress đối với các chiến sĩ ở đơn vị cơ sở quân đội‖ -4- hợp. Chính vì vậy, nghiên cứu tác động của liệu pháp nghệ thuật trên ngƣời bị stress càng có ý nghĩa hơn bao giờ, bởi cơ hội mở ra hƣớng đi mới trong trị liệu stress của nó. Với những tiền đề hết sức cơ bản đó, đề tài nghiên cứu Đánh giá tác động của liệu pháp nghệ thuật trên người bị stress có ý nghĩa vô cùng cấp thiết không chỉ về mặt lý luận mà còn mang tính thực tiễn, gắn liền với sự phát triển của mảng tâm lý lâm sàng và các vấn đề xã hội trong thời gian gần đây.
Tình hình nghiên cứu đề tài: Liệu pháp nghệ thuật là một liệu pháp tƣơng đối mới mẻ và non trẻ trong lĩnh vực sức khoẻ tâm thần. Liệu pháp này đƣợc chính thức công nhận trên thế giới vào khoảng nửa đầu thế kỉ 20, sau đó nhanh chóng phát triển mạnh tại Anh, Mỹ và các nƣớc châu Âu. Chính vì vậy, đến nay, hàng loạt các công trình nghiên cứu, tham luận, bài viết khoa học về liệu pháp nghệ thuật có thể tiếp cận đƣợc đa phần đều là những tài liệu ngoại văn. Các tài liệu khoa học trong nƣớc rất khan hiếm, chủ yếu là biên dịch và phần lớn chỉ tập trung vào một vài khía cạnh đặc thù của liệu pháp nghệ thuật.
Bốn tác giả mở đƣờng đƣợc biết đến trên toàn cầu vì những đóng góp cho sự phát triển của liệu pháp nghệ thuật từ những ngày đầu là Margaret Naumburg, Edith Kramer, Hanna Kwiatkowska, và Elinor Ulman16. Các nghiên cứu của họ trải rộng trên các bệnh lý nhƣ tâm thần phân liệt, rối loạn thích nghi, trầm cảm và rối loạn stress sau sang chấn (PTSD), riêng Margaret Naumburg đã đƣa ra những nền tảng lý luận đầu tiên của liệu pháp nghệ thuật dựa trên cơ sở phân tâm học. Tuy vậy, ở thời điểm này, các nghiên cứu của 4 tác giả trên chủ yếu tập trung vào các nghiên cứu trƣờng hợp (case study) nhỏ lẻ, dù có ý nghĩa quan trọng về mặt kĩ thuật thực hành song chƣa mang tính hệ thống. Trong một thời gian ngắn, các nghiên cứu về liệu pháp nghệ thuật ở Châu Mỹ và Châu Âu đã khái quát đƣợc phần lớn hệ thống lý thuyết của liệu pháp này kèm theo cơ sở thực hành của nó.
Những nghiên cứu hiện đại về liệu pháp nghệ thuật trên thế giới đã đi sâu vào mối tƣơng quan giữa các hƣớng tiếp cận của liệu pháp với các vấn đề tâm bệnh 16 Cathy A.