CHƯƠNG 1 Trong chương này, để có cái nhìn tổng quan về đề tài nghiên cứu, tác giả đã tóm lược các nội dung của từng chương trong khóa luận thông qua các phần cụ thể như mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp và nội dung nghiên cứu cũng như đưa ra được đóng góp và bố cục cho đề tài. TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ LÃI SUẤT, TỶ GIÁ ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG 2. Một số khái niệm liên quan 2. Tổng quan về tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu 2.
Khái niệm về tỷ suất sinh lợi cổ phiếu Theo Mishkin (2015), TSSL là chỉ tiêu quan trọng trong đầu tư và được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa mức lợi nhuận thu được (bao gồm sự thay đổi về giá và các khoản thu nhập bằng tiền mặt) và giá trị của khoản đầu tư bỏ ra. Ngoài ra, TSSL còn được hiểu là là một tiêu thức được đo lường bằng sự tăng hoặc giảm của tài sản từ việc đầu tư (Chance & Brooks, 2012). Williams (1998) định nghĩa TSSL cổ phiếu dựa trên quan điểm của người đầu tư, ông cho rằng TSSL cổ phiếu là giá trị hiện tại của tất cả các lợi nhuận dự kiến trong tương lai từ việc nắm giữ cổ phiếu. Hay Graham (2006) khái niệm TSSL cổ phiếu là tỷ suất lợi nhuận tối đa mà một người có thể mong đợi từ việc đầu tư vào cổ phiếu mà không có sự thay đổi đột ngột trong chính sách của công ty.
Tóm lại, TSSL trên cổ phiếu đơn giản là sự thay đổi trong giá trị cổ phiếu trong kỳ xem xét chia cho giá của cổ phiếu đó tại thời điểm đầu kỳ. TSSL được tính toán thông qua khoản thu hồi khi đầu tư vào một cổ phiếu thông thường, tuân theo giá trị cổ phiếu giữa đầu và cuối của kỳ và thu nhập mà chủ sở hữu được từ cổ phiếu đó. Phương pháp đo lường tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu Theo Bodie, Kane, & Marcus (2009) để đo lường TSSL tùy vào mục tiêu và đối tượng phân loại thì gồm có hai cách là đo lường TSSL quá khứ và đo lường TSSL kỳ vọng. Đo lường tỷ suất sinh lợi cổ phiếu quá khứ 9 Khi đánh giá giữa các cơ hội đầu tư, nhà đầu tư thông thường so sánh những cơ hội đầu tư này với biến động giá trên thị trường, để định giá hợp lý các cơ hội đầu tư này, cần phải so sánh một cách chính xác TSSL quá khứ của các loại cổ phiếu đó.
Công thức tính TSSL quá khứ của cổ phiếu: (𝑃1 − 𝑃0 ) + 𝐷1 𝑅𝑖 = 𝑃0 𝑅𝑖: Tỷ suất sinh lợi cổ phiếu i 𝑃1 : Giá cổ phiếu tại thời điểm t. 𝑃0 : Giá cổ phiếu tại thời điểm 0. 𝐷1 : Giá trị cổ tức nhận được trong khoảng thời gian t. Đo lường tỷ suất sinh lợi cổ phiếu kỳ vọng Trái với TSSL quá khứ, nhà đầu tư trong trường hợp này kỳ vọng vào triển vọng của một cơ hội đầu tư thông qua TSSL kỳ vọng.
TSSL kỳ vọng từ đầu tư được tính như sau: TSSL kỳ vọng = ∑𝑛𝑖=1( 𝑥á𝑐 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑛ℎậ𝑛 đượ𝑐 𝑇𝑆𝑆𝐿 𝑖) ∗ (𝑇𝑆𝑆𝐿 𝑖 𝑛ℎậ𝑛 đượ𝑐): 𝐸 (𝑅) = [(𝑃1 ) ∗ (𝑅1 ) + (𝑃2 ) ∗ (𝑅2 ) + ⋯ + (𝑃𝑛 ) ∗ (𝑅𝑛 )] 𝑛 𝐸 (𝑅) = ∑(𝑃𝑖 ) ∗ (𝑅𝑖 ) 𝑖=1 Trong đó: 𝑃𝑖 là xác suất xảy ra trạng thái i và 𝑅𝑖 là TSSL của chứng khoán ở trạng thái i và n là số trạng thái. Tổng quan về lãi suất Nguyễn Văn Tiến (2010) cho rằng LS theo Marshall (1890) là chỉ giá phải trả cho việc sử dụng vốn trên thị trường bất kỳ. LS được mô tả như là phần thưởng cho việc chờ đợi, Marshall xem xét rằng LS phản ánh giá trị của việc sử dụng vốn (tiền) ngay bây giờ thay vì ở tương lai. Mặt khác, Keynes (1936) phát biểu LS là giá để vay mượn hoặc thuê những dịch vụ tiền, vì việc vay mượn hoặc thuê những dịch vụ tiền liên quan đến việc tạo ra tín dụng, do vậy người ta có thể coi LS như là giá cả của tín dụng.
Hay theo 10 Samuelson (1948), LS là giá mà người đi vay phải trả cho người vay để được sử dụng một khoản tiền trong một thời gian nhất định, nó chính là giá của việc mua bản quyền sử dụng tiền tệ trong một thời gian xác định. Về vai trò của LS, Friedman (1956) khẳng định LS là một công cụ tích cực trong phát triển kinh tế và đồng thời lại là công cụ kiềm hãm của chính sự phát triển ấy, tùy thuộc vào sự khôn ngoan hay khờ dại trong việc sử dụng chúng. Tóm lại, LS được hiểu là chi phí của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay nào đó trong một đơn vị thời gian hay là tỷ lệ phần trăm được xác định cho một đơn vị thời gian nhất định mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó. Tổng quan về tỷ giá hối đoái 2.
Khái niệm về tỷ giá hối đoái Samuelson (1948) cho rằng TGHĐ là giá để đổi tiền của một nước lấy tiền một nước khác. Tỷ giá được ví như một cái gương của quan hệ giữa một nền kinh tế và thế giới bên ngoài, nơi mà một nền kinh tế có thể thấy được sức mạnh của nó so với các nên kinh tế khác thông qua TGHĐ. Theo Pass & Lowes (1991) cho rằng TGHĐ là giá của một loại tiền tệ được biểu hiện qua một tiền tệ khác. Hay Fisher (1930) coi TGHĐ như một bức tranh phản ánh mức độ tự do và sự điều chỉnh tự nhiên của thị trường và sự can thiệp từ chính sách tiền tệ và chính sách thương mại của các quốc gia.
Tóm lại, TGHĐ giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác. Mỗi một quốc gia sẽ quyết định chế độ TGHĐ cho đơn vị tiền của mình. Phương pháp đo lường tỷ giá hối đoái Để tiến hành giao dịch mua bán ngoại tệ trên thị trường hối đoái, các ngân hàng phải thực hiện việc niêm yết tỷ giá, trên cơ sở áp dụng những phương pháp niêm yết thống nhất. Theo Nguyễn Văn Tiến (2008), có hai phương pháp niêm yết tỷ giá được sử 11 dụng theo quy ước trên thị trường đó là niêm yết tỷ giá theo cách gián tiếp và niêm yết tỷ giá theo cách trực tiếp.
Phương pháp niêm yết tỷ giá theo cách gián tiếp: đồng nội tệ sẽ đóng vai trò là đồng yết giá và có đơn vị cố định là một đơn vị, còn đồng ngoại tệ đóng vai trò là đồng định giá có số đơn vị thay đổi dựa theo thay đổi trên thị trường ngoại hối. Phương pháp niêm yết tỷ giá trực tiếp: là cách yết giá tại các quốc gia sở hữu đồng tiền yếu. Khi đó đồng ngoại tệ sẽ đóng vai trò là đồng yết giá, còn đồng nội tệ của quốc gia đó sẽ là đồng định giá. Cơ sở lý thuyết của lãi suất và tỷ giá hối đoái tác động lên tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần 2.
Lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH) và mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis – EMH) do Eugene Fama phát triển vào năm 1965. Lý thuyết khẳng định rằng các thị trường tài chính hiệu quả và giá của chứng khoán phản ánh đầy đủ mọi thông tin đã biết. Nền tảng mô hình CAPM được đề xuất từ những năm 1960 dựa trên lý thuyết về thị trường hiệu quả và lý thuyết quản lý danh mục đầu tư. Mô hình CAPM lượng hóa mối quan hệ tuyến tính giữa rủi ro hệ thống và lợi nhuận kỳ vọng của các tài sản rủi ro.
Phương trình CAPM được mô tả như sau: 𝛼𝑖 = 𝑟𝑓 + 𝛽𝑖𝑚 (𝛼𝑚 − 𝑟𝑓 ) + 𝛽𝑖ℎ (𝛼ℎ − 𝑟𝑓 ) Trong đó: 𝑟𝑓 : LS phi rủi ro 𝛽𝑖𝑚 : Độ nhạy của chứng khoán đối với sự thay đổi của danh mục thị trường 𝛼𝑚 : TSSL của danh mục thị trường 𝛽𝑖ℎ : Độ nhạy của chứng khoán đối với sự thay đổi của danh mục phòng ngừa rủi ro 12 𝛼ℎ : TSSL của một danh mục phòng ngừa rủi ro Mô hình ICAPM là mô hình tài chính quốc tế mở rộng từ mô hình CAPM đưa ra bởi Merton (1973). Mô hình ICAPM áp dụng được trong môi trường tài chính quốc tế, cho phép đánh giá rủi ro và tính toán TSSL của các tài sản tài chính trong ngữ cảnh toàn cầu. ICAPM giải thích TSSL kỳ vọng của một tài sản tài chính quốc tế bằng cách kết hợp rủi ro quốc tế (được thể hiện qua các biến số như tỷ giá hối đoái) và rủi ro hệ thống quốc tế. Mô hình ICAPM không có một phương trình cụ thể như mô hình CAPM, nhưng nó cũng dựa trên các yếu tố tương tự nhưng bao gồm thêm các yếu tố quốc tế.
Nghiên cứu thực nghiệm của Song (1994) sử dụng mô hình hai nhân tố gồm nhân tố thị trường và LS dựa trên mô hình ICAPM kết hợp lý thuyết thị trường hiệu quả chỉ ra biến động thị trường và biến LS tác động mạnh lên TSSL của cổ phiếu với từng giai đoạn khác nhau. Tương tự, Kasman và cộng sự (2011) kết hợp mô hình ICAPM, lý thuyết APT cho ra kết quả sự biến động của LS và TGHĐ là những yếu tố chính quyết định sự biến động của lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng có điều kiện. Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT) Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá Arbitrage (APT- Arbitrage Pricing Theory) được đề xuất bởi Ross Stephen đề xuất vào giữa khoảng thập niên 70 của thế kỷ 20. Theo lý thuyết này, mối quan hệ giữa TSSL mong đợi và rủi ro có thể được giải thích là nếu hai sự đầu tư hoàn toàn giống nhau và có TSSL kỳ vọng khác nhau, một nhà đầu tư có thể đạt được lợi nhuận phi rủi ro bằng cách mua sự đầu tư với TSSL mong đợi cao hơn và bán khống sự đầu tư có TSSL mong đợi thấp hơn.
Khi TSSL của các chứng khoán có cùng hệ số beta nhưng TSSL khác nhau, sẽ tạo ra cơ hội kinh doanh chênh lệch giá. Mô hình APT một nhân tố APT một nhân tố biểu hiện có một yếu tố F ảnh hưởng đến TSSL của chứng khoán I (𝑅𝑖 ). Không thể đa dạng hóa được yếu tố F vì các nhà đầu tư rằng đó yếu tố thị 13 trường. Chỉ số Beta i biểu diễn tác động của yếu tố F lên chứng khoán I.