Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Các điều kiện kinh tế vĩ mô và tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn – Bằng chứng ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Trần Thị Mười thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (năm 2018), thuộc chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số: 62340201), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên và TS. Nguyễn Ngọc Ảnh.
+-----------------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN CHUNG VỀ LUẬN ÁN |
+--------------------------+--------------------------------------------------------------+
| Tên đề tài | Các điều kiện kinh tế vĩ mô và tốc độ điều chỉnh cấu trúc |
| | vốn – Bằng chứng ở Việt Nam |
| Tác giả | Trần Thị Mười |
| Chuyên ngành | Tài chính – Ngân hàng (Tài chính) |
| Mã số | 62340201 |
| Cơ sở đào tạo | Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh |
| Năm bảo vệ | 2018 |
| Người hướng dẫn khoa học | 1. PGS.TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên |
| | 2. TS. Nguyễn Ngọc Ảnh |
| Phương pháp nghiên cứu | Định lượng (SGMM trên dữ liệu bảng động) |
| Thời gian dữ liệu | Giai đoạn 2006 – 2015 |
| Phạm vi khảo sát | 17 ngành phi tài chính niêm yết trên HSX và HNX |
+--------------------------+--------------------------------------------------------------+
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị công ty là một nội dung trung tâm của quản trị tài chính doanh nghiệp. Dưới góc nhìn thực nghiệm, các doanh nghiệp thường hướng tới việc thiết lập một cấu trúc vốn mục tiêu để tối đa hóa giá trị. Do tác động liên tục của các cú sốc bên trong và bên ngoài, cấu trúc vốn thực tế của doanh nghiệp không cố định mà mang tính chất động, đòi hỏi quá trình tái cân bằng liên tục. Trong khi các nhà quản trị có thể chủ động kiểm soát các đặc tính nội tại vi mô, việc kiểm soát và thích ứng với các biến động kinh tế vĩ mô bên ngoài (tăng trưởng GDP, lạm phát, biến động lãi suất) phức tạp hơn nhiều.
Tại Việt Nam, các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào mô hình cấu trúc vốn tĩnh hoặc xem xét tác động trực tiếp của các biến số vĩ mô và vi mô riêng lẻ đến mức độ đòn bẩy nợ. Chưa có công trình nào đánh giá có hệ thống tác động của các điều kiện kinh tế vĩ mô (trạng thái nền kinh tế tốt hay xấu) đến tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng về mức mục tiêu. Đồng thời, cấu trúc vốn và chi phí điều chỉnh có sự phân hóa rõ rệt giữa các ngành nghề. Ngành Bất động sản giữ vị trí trọng yếu trong chu kỳ kinh tế nhưng chưa được đặt trong tương quan so sánh với các ngành Sản xuất – Kinh doanh – Dịch vụ về tốc độ điều chỉnh đòn bẩy dưới các trạng thái vĩ mô khác nhau.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định tác động của các điều kiện kinh tế vĩ mô (tốt và xấu) đến tốc độ điều chỉnh đòn bẩy tài chính hướng đến đòn bẩy tài chính mục tiêu của các công ty niêm yết tại Việt Nam.
- Xác định sự khác biệt về tốc độ điều chỉnh đòn bẩy tài chính hướng đến mức mục tiêu giữa nhóm ngành Bất động sản và nhóm ngành Sản xuất – Kinh doanh – Dịch vụ (SX-KD-DV) trong các điều kiện kinh tế vĩ mô khác nhau.
Từ các mục tiêu trên, tác giả xây dựng hai câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Dưới tác động của các điều kiện kinh tế vĩ mô khác nhau, tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng đến cấu trúc vốn mục tiêu của các công ty niêm yết Việt Nam có khác nhau hay không?
- Câu hỏi 2: Dưới tác động của các điều kiện kinh tế vĩ mô khác nhau, tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng đến cấu trúc vốn mục tiêu của các công ty niêm yết Việt Nam thuộc nhóm ngành Bất động sản và SX-KD-DV có khác nhau hay không?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của các điều kiện kinh tế vĩ mô đến tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn (được đo lường qua đòn bẩy tài chính theo giá trị sổ sách và giá trị thị trường) của các công ty niêm yết.
- Phạm vi không gian: Các công ty cổ phần niêm yết trên hai sở giao dịch chứng khoán chính thức của Việt Nam là Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2006 – 2015.
- Phạm vi ngành: 17 ngành phi tài chính theo hệ thống phân ngành của Vietstock (dựa trên chuẩn NAICS 2007, tương thích với hệ thống VSIC 2007). Mẫu nghiên cứu loại trừ 3 ngành tài chính gồm Ngân hàng, Chứng khoán và Bảo hiểm do có đặc thù kế toán và cơ chế quản lý vốn riêng biệt. Mẫu được chia thành hai nhóm:
- Nhóm ngành Bất động sản: Gồm 3 ngành (Bất động sản, Vật liệu xây dựng, Xây dựng) căn cứ theo định nghĩa về bất động sản tại Điều 107 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 và Điều 54 Hiến pháp 2013.
- Nhóm ngành SX-KD-DV: Gồm 14 ngành còn lại (Bán buôn, Bán lẻ, Chăm sóc sức khỏe, Chế biến thủy sản, Công nghệ và Thông tin, Khai khoáng, Nông – Lâm – Ngư, Sản phẩm Cao su, Sản xuất Hàng gia dụng, Sản xuất Nhựa – Hóa chất, Sản xuất Thiết bị máy móc, Tiện ích, Thực phẩm – Đồ uống, Vận tải – Kho bãi).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Luận án điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu cấu trúc vốn trên thế giới qua các giai đoạn phát triển:
- Nền tảng lý thuyết ban đầu: Modigliani và Miller (1958, 1963) đặt nền móng với định đề không liên quan trong thị trường hoàn hảo và tác động của lá chắn thuế lãi vay trong thị trường có thuế. Kraus và Litzenberger (1973), Myers (1984) phát triển thuyết đánh đổi (Trade-off Theory) giữa lợi ích tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện. Donaldson (1961), Myers và Majluf (1984) xây dựng thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory) dựa trên bất cân xứng thông tin. Baker và Wurgler (2002) phát triển thuyết định thời điểm thị trường (Market Timing Theory).
- Cấu trúc vốn động và chi phí điều chỉnh: Fama và French (2002), Stein Frydenberg (2003), Nishioka và Baba (2004), Hyesung Kim, Heshmati và Aoun (2006), Leary và Roberts (2005), Flannery và Rangan (2005, 2006), Miguel và Pindado (2001), Gonzalez và Gonzalez (2008), Faulkender và cộng sự (2008, 2012), Byoun (2008), Yang Yan (2010), Rubio và Sogorb (2011), Clark, Francis và Hasan (2009), Omar Camara (2012) chứng minh các công ty điều chỉnh từng phần về mức nợ mục tiêu với tốc độ phụ thuộc vào quy mô chi phí điều chỉnh và sự phát triển của thể chế tài chính.
- Tác động của điều kiện kinh tế vĩ mô đến tốc độ điều chỉnh: Hackbarth và cộng sự (2006) xây dựng khung lý thuyết chứng minh điều kiện kinh tế vĩ mô định hình quyết định tài trợ. Về thực nghiệm:
- Drobetz và Wanzenried (2006) sử dụng GMM trên 90 công ty Thụy Sỹ (1991–2001), dùng chênh lệch kỳ hạn lãi suất, chênh lệch lợi suất trái phiếu doanh nghiệp, lãi suất ngắn hạn và rủi ro tín dụng để xác định điều kiện kinh tế.
- Cook và Tang (2010) áp dụng mô hình điều chỉnh từng phần tích hợp và hồi quy hai giai đoạn trên dữ liệu công ty Mỹ (1977–2006), sử dụng chênh lệch kỳ hạn lãi suất, tăng trưởng GDP, tỷ suất cổ tức thị trường, tỷ số giá trên sản lượng và chênh lệch lãi suất trái phiếu.
- Mukherjee và Mahakud (2012) áp dụng GMM cho 891 công ty chế tạo Ấn Độ (1993–2008).
- Chipeta và Mbululu (2013) nghiên cứu 191 công ty niêm yết trên sàn JSE Nam Phi (2000–2010) qua mô hình biến phụ thuộc phân số.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các nghiên cứu tiêu biểu bao gồm:
- Trần Hùng Sơn (2011) sử dụng mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) nghiên cứu tác động của lợi nhuận, tài sản cố định, quy mô và tăng trưởng đến tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
- Lê Đạt Chí (2013) sử dụng mô hình tác động cố định (FEM) đánh giá các yếu tố vi mô và vĩ mô (thuế, lạm phát) đến quyết định tài trợ.
- Đặng Thị Quỳnh Anh và cộng sự (2014) sử dụng FEM nghiên cứu tác động của đặc tính doanh nghiệp, thuế, điều kiện thị trường nợ và chứng khoán.
- Võ Thị Thúy Anh và cộng sự (2014) áp dụng FEM phân tích tác động của thuế TNDN, tăng trưởng GDP, lạm phát, thị trường vốn và nợ.
- Phạm Tiến Minh và cộng sự (2015) sử dụng phương pháp GMM hệ thống (SGMM) để phân tích mô hình cấu trúc vốn tĩnh và động dưới tác động của các yếu tố vi mô.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
- Các công trình tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc xem xét tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô riêng lẻ như những biến kiểm soát tuyến tính, chưa lượng hóa trạng thái kinh tế vĩ mô thành các "điều kiện kinh tế vĩ mô tốt và xấu" để kiểm định sự khác biệt về tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn.
- Chưa có công trình nào kiểm định sự khác biệt trong tốc độ điều chỉnh đòn bẩy tài chính giữa nhóm ngành Bất động sản và các ngành sản xuất kinh doanh khác dưới sự tương tác với các trạng thái kinh tế vĩ mô.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn động (Dynamic Trade-off Theory): Doanh nghiệp tồn tại một tỷ lệ đòn bẩy mục tiêu tối ưu hóa giá trị. Do tồn tại chi phí giao dịch, chi phí phát hành, bất cân xứng thông tin và chi phí đại diện, doanh nghiệp điều chỉnh từng phần về mức mục tiêu thay vì điều chỉnh tức thời.
- Khái niệm điều kiện kinh tế vĩ mô: Theo định nghĩa của Andrew Threadgould (2011), điều kiện kinh tế vĩ mô thể hiện trạng thái mở rộng (tốt) hoặc thu hẹp (xấu) của nền kinh tế.
- Tiêu chí xác định điều kiện kinh tế vĩ mô:
- Chênh lệch kỳ hạn lãi suất (Term Spread - TERM): Hiệu số giữa lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm và 1 năm (hoặc tín phiếu ngắn hạn). TERM cao phản ánh điều kiện kinh tế tốt, TERM thấp phản ánh điều kiện xấu.
- Tỷ suất cổ tức thị trường (Market Dividend Yield - MDY): Tỷ số giữa cổ tức trên giá thị trường. MDY thấp phản ánh thị trường định giá cổ phiếu cao (điều kiện tốt), MDY cao phản ánh thị trường suy giảm (điều kiện xấu).
- Tốc độ tăng trưởng GDP: Tăng trưởng cao thể hiện điều kiện tốt, tăng trưởng thấp thể hiện điều kiện xấu.
Mô hình kinh tế lượng
Luận án phát triển mô hình điều chỉnh từng phần tích hợp mở rộng (Extended Integrated Partial Adjustment Model) từ nghiên cứu của Cook và Tang (2010).
Phương trình tổng quát cho toàn mẫu doanh nghiệp:
$$\Delta LEV_{i,t} = \lambda_{i,t} (LEV_{i,t}^* - LEV_{i,t-1}) + \epsilon_{i,t}$$
Trong đó, tốc độ điều chỉnh $\lambda_{i,t}$ là một hàm phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế vĩ mô thông qua các biến tương tác:
$$LEV_{i,t} = (1 - \lambda_0) LEV_{i,t-1} + \beta X_{i,t-1} - \delta_1 (LEV_{i,t-1} \times \text{termdum}{t-1}) - \delta_2 (LEV{i,t-1} \times \text{mdydum}{t-1}) + \gamma \text{Macro}{t-1} + \epsilon_{i,t}$$
Đối với mô hình phân tích nhóm ngành, tác giả bổ sung biến giả nhóm ngành ($DGROUP = 1$ cho nhóm Bất động sản, $DGROUP = 0$ cho nhóm SX-KD-DV) và biến tương tác ba chiều giữa đòn bẩy trễ, biến điều kiện vĩ mô và biến nhóm ngành:
$$\begin{aligned}
LEV_{i,t} = & (1 - \lambda_0) LEV_{i,t-1} + \beta X_{i,t-1} - \delta (LEV_{i,t-1} \times \text{Macro}{t-1}) \
& - \theta (LEV{i,t-1} \times DGROUP) - \phi (LEV_{i,t-1} \times \text{Macro}{t-1} \times DGROUP) + \dots + \epsilon{i,t}
\end{aligned}$$
+-----------------------------------------------------------------------------------------+
| DANH MỤC BIẾN SỐ TRONG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU |
+---------------+------------------------------------------------------+------------------+
| Tên biến | Định nghĩa / Cách đo lường | Vai trò |
+---------------+------------------------------------------------------+------------------+
| LEV_ss | Tổng nợ phải trả / Tổng tài sản (giá trị sổ sách) | Biến phụ thuộc |
| LEV_tt | Tổng nợ phải trả / (Tổng nợ + Giá trị thị trường VCSH)| Biến phụ thuộc |
| termdum | Biến giả nhận giá trị 1 khi TERM cao, 0 khi TERM thấp| Biến vĩ mô |
| mdydum | Biến giả nhận giá trị 1 khi MDY thấp, 0 khi MDY cao | Biến vĩ mô |
| DGROUP | Biến giả: 1 là nhóm Bất động sản, 0 là nhóm SX-KD-DV | Biến phân nhóm |
| GDP | Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa | Biến kiểm soát |
| TANG | Tài sản cố định hữu hình / Tổng tài sản | Biến kiểm soát |
| EBIT | Lợi nhuận trước lãi vay và thuế / Tổng tài sản | Biến kiểm soát |
| DEP | Chi phí khấu hao TSCĐ / Tổng tài sản | Biến kiểm soát |
| LNTA | Logarit tự nhiên của Tổng tài sản (Quy mô công ty) | Biến kiểm soát |
| MB | Giá trị thị trường / Giá trị sổ sách của tổng tài sản| Biến kiểm soát |
+---------------+------------------------------------------------------+------------------+
Phương pháp ước lượng và kiểm định
- Kỹ thuật ước lượng: Phương pháp mô-men tổng quát hệ thống hai bước (Two-step System GMM - SGMM) áp dụng trên phần mềm Stata 13 cho mô hình dữ liệu bảng động (Dynamic Panel Data).
- Lý do lựa chọn SGMM: Xử lý triệt để hiện tượng nội sinh phát sinh từ biến phụ thuộc trễ ($LEV_{i,t-1}$), kiểm soát các đặc tính cố định bất biến theo thời gian không quan sát được của từng công ty, đồng thời khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan trong phần dư mà các phương pháp OLS, FEM, REM, 2SLS hay GMM sai phân (DGMM) gặp phải.
- Kiểm định thống kê đi kèm:
- Kiểm định Arellano-Bond đối với tự tương quan sai phân bậc nhất AR(1) và bậc hai AR(2).
- Kiểm định Hansen/Sargan về tính hợp lệ của các biến công cụ ngoại sinh (Instrument Variables - IV).
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Chương 1 thiết lập khung đề dẫn cho toàn bộ luận án. Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc nghiên cứu tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn động dưới góc độ các điều kiện kinh tế vĩ mô bên ngoài. Chương này phân tích bối cảnh kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006–2015, chỉ ra các khoảng trống học thuật tại thị trường nội địa, xác lập hệ thống 2 mục tiêu nghiên cứu và 2 câu hỏi nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu tại 2 sàn giao dịch HSX và HNX, tóm lược phương pháp SGMM và công bố cấu trúc 5 chương của công trình.
CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN – BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN TỐC ĐỘ ĐIỀU CHỈNH CẤU TRÚC VỐN
Chương 2 tổng hợp cơ sở lý luận về cấu trúc vốn tĩnh và cấu trúc vốn động, phân tích cơ chế chi phí điều chỉnh (chi phí phát hành, chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí giao dịch) làm chậm tốc độ đưa đòn bẩy về mức tối ưu. Tác giả định nghĩa các điều kiện kinh tế vĩ mô tốt và xấu, phân tích tác động của chính sách tiền tệ (qua chênh lệch kỳ hạn lãi suất TERM) và chính sách cổ tức (qua tỷ suất cổ tức thị trường MDY). Đồng thời, chương này tổng quan chi tiết các bằng chứng thực nghiệm quốc tế (Drobetz & Wanzenried, 2006; Cook & Tang, 2010; Mukherjee & Mahakud, 2012; Chipeta & Mbululu, 2013) làm nền tảng so sánh đối chiếu.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 3 chi tiết hóa quy trình thu thập và xử lý mẫu dữ liệu bảng của các công ty niêm yết phi tài chính. Tác giả xây dựng tiêu chí phân loại trạng thái kinh tế vĩ mô của Việt Nam giai đoạn 2006–2015 thành các năm tốt và xấu căn cứ vào chỉ số TERM và MDY. Tác giả thiết lập phương trình hồi quy điều chỉnh từng phần tích hợp mở rộng, định nghĩa các biến tương tác giữa biến trễ cấu trúc vốn với biến giả vĩ mô và biến giả nhóm ngành. Hệ thống các giả thuyết nghiên cứu từ H1 đến H6 được xây dựng chi tiết cho từng tình huống kết hợp trạng thái vĩ mô và nhóm ngành, đi kèm quy trình kiểm định SGMM trên Stata 13.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 4 công bố toàn bộ kết quả định lượng. Bắt đầu bằng thống kê mô tả đòn bẩy tài chính và ma trận tương quan giữa các biến, tác giả trình bày kết quả hồi quy SGMM cho đòn bẩy sổ sách và đòn bẩy thị trường:
- Mô hình toàn mẫu: Tác động của điều kiện kinh tế vĩ mô đến tốc độ điều chỉnh đòn bẩy có sự khác biệt rõ rệt giữa giá trị sổ sách và thị trường. Chỉ có chỉ số MDY tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tốc độ điều chỉnh.
- Mô hình nhóm ngành: Phân tích tốc độ điều chỉnh của nhóm Bất động sản so với nhóm SX-KD-DV qua các tình huống kinh tế tốt/xấu. Tác giả tiến hành so sánh kết quả thực nghiệm với các giả thuyết ban đầu và đối chiếu với các nghiên cứu tại các quốc gia phát triển, khu vực Đông Nam Á và Việt Nam.
+-----------------------------------------------------------------------------------------+
| TỔNG HỢP SO SÁNH TỐC ĐỘ ĐIỀU CHỈNH ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH THEO KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM |
+---------------------+-------------------+-----------------------+-----------------------+
| Trạng thái / Nhóm | Thước đo vĩ mô | Đòn bẩy sổ sách (ss) | Đòn bẩy thị trường(tt)|
+---------------------+-------------------+-----------------------+-----------------------+
| Toàn mẫu doanh | MDY | Tốc độ điều chỉnh | Tốc độ điều chỉnh |
| nghiệp Việt Nam | (Cổ tức thị trường| VĨ MÔ TỐT < VĨ MÔ XẤU | VĨ MÔ TỐT > VĨ MÔ XẤU |
+---------------------+-------------------+-----------------------+-----------------------+
| Toàn mẫu doanh | TERM | Không có sự khác biệt | Không có sự khác biệt |
| nghiệp Việt Nam | (Kỳ hạn lãi suất) | có ý nghĩa thống kê | có ý nghĩa thống kê |
+---------------------+-------------------+-----------------------+-----------------------+
| Nhóm Bất động sản so| MDY | Nhóm BĐS điều chỉnh | Nhóm BĐS điều chỉnh |
| với nhóm SX-KD-DV | (Cổ tức thị trường| chậm hơn nhóm SX-KD-DV| nhanh hơn nhóm SX-KD-DV|
| trong vĩ mô tốt | | | |
+---------------------+-------------------+-----------------------+-----------------------+
CHƯƠNG 5: KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
Chương 5 phân tích hai hàm ý thực tiễn then chốt rút ra từ chương 4:
- Doanh nghiệp Việt Nam (nhất là nhóm Bất động sản) gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn nợ trung dài hạn kể cả trong giai đoạn kinh tế vĩ mô thuận lợi, thể hiện qua tốc độ điều chỉnh đòn bẩy sổ sách chậm lại.
- Doanh nghiệp được thị trường vốn định giá tốt trong điều kiện vĩ mô tích cực, tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ điều chỉnh đòn bẩy thị trường thông qua kênh huy động vốn cổ phần.
Trên cơ sở đó, chương này đề xuất các nhóm giải pháp chính sách vi mô dành cho nhà quản trị doanh nghiệp và các kiến nghị vĩ mô dành cho cơ quan quản lý Nhà nước nhằm phát triển thị trường trái phiếu và cải thiện khả năng tiếp cận vốn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và học thuật
- Luận án hệ thống hóa và làm rõ khái niệm điều kiện kinh tế vĩ mô (trạng thái mở rộng và thu hẹp) trong bối cảnh một thị trường mới nổi đang phát triển như Việt Nam thông qua các chỉ số đo lường cụ thể (TERM, MDY, GDP).
- Mở rộng mô hình điều chỉnh từng phần tích hợp của Cook và Tang (2010) bằng cách đưa vào đồng thời các biến tương tác giữa đòn bẩy trễ với biến giả điều kiện kinh tế vĩ mô ($D_{i,t-1} \times \text{Macrot}{t-1}$) và biến giả nhóm ngành ($D{i,t-1} \times \text{DGROUP}$), tạo thành khung phân tích đa tình huống về tốc độ điều chỉnh đòn bẩy động.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy sự phân kỳ giữa tốc độ điều chỉnh đòn bẩy sổ sách và đòn bẩy thị trường dưới các trạng thái vĩ mô: trong điều kiện vĩ mô tốt, tốc độ điều chỉnh đòn bẩy sổ sách chậm hơn nhưng tốc độ điều chỉnh đòn bẩy thị trường lại nhanh hơn.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Đối với các doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn trung dài hạn (bao gồm doanh nghiệp nhóm Bất động sản):
- Chủ động tái cấu trúc kỳ hạn nợ và quản trị dòng tiền chặt chẽ; không phụ thuộc quá mức vào các khoản tín dụng ngắn hạn ngân hàng để tài trợ dự án dài hạn.
- Đa dạng hóa các kênh huy động vốn, tích cực chuẩn bị điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp và hợp tác đầu tư khi điều kiện thị trường cho phép.
- Đối với các doanh nghiệp được thị trường đánh giá tốt:
- Tận dụng thời điểm kinh tế vĩ mô tốt và thị trường chứng khoán tăng trưởng (MDY thấp) để phát hành thêm cổ phiếu, gia tăng thặng dư vốn cổ phần và tái cân bằng cấu trúc vốn nhanh chóng.
- Hoạch định chính sách cổ tức nhất quán để duy trì tín hiệu tích cực đối với nhà đầu tư.
- Đối với cơ quan quản lý Nhà nước:
- Hoàn thiện khung pháp lý và hạ tầng giao dịch cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp nhằm cung cấp kênh dẫn vốn trung và dài hạn an toàn, giảm áp lực cung ứng vốn dài hạn lên hệ thống ngân hàng thương mại.
- Điều hành chính sách tiền tệ và tín dụng linh hoạt, minh bạch hóa thông tin thị trường chứng khoán để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực tài chính hiệu quả.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Dữ liệu thị trường trái phiếu hạn chế: Do thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu chưa phát triển mạnh, luận án không thể thu thập đầy đủ chỉ số chênh lệch lãi suất trái phiếu doanh nghiệp (Default Spread - DEF) để đưa vào mô hình như các nghiên cứu tại các quốc gia phát triển.
- Quy mô mẫu nghiên cứu: Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường mới nổi, số lượng công ty niêm yết và quy mô vốn hóa của một số ngành trong giai đoạn 2006–2015 còn khiêm tốn, dẫn đến việc phải gộp 17 ngành thành 2 nhóm lớn (Bất động sản và SX-KD-DV).
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng chuỗi thời gian nghiên cứu sau năm 2015 khi số lượng công ty niêm yết tăng lên và thị trường tài chính phát triển hoàn thiện hơn.
- Bổ sung thêm các chỉ số vĩ mô chuyên sâu như chênh lệch rủi ro tín dụng (TED Spread, Default Spread) và các biến số vi mô khác khi dữ liệu thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam được chuẩn hóa.
- Phân tích chi tiết hơn hành vi điều chỉnh cấu trúc vốn theo từng phân ngành hẹp hoặc theo mức độ hạn chế tài chính (Financially Constrained - FC) của doanh nghiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp và kinh tế lượng ứng dụng:
- Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng: Tham khảo phương pháp xây dựng mô hình điều chỉnh từng phần tích hợp mở rộng, kỹ thuật sử dụng biến tương tác và quy trình ước lượng System GMM (SGMM) hai bước trên phần mềm Stata để xử lý dữ liệu bảng động có hiện tượng nội sinh.
- Các nhà quản trị tài chính và giám đốc điều hành doanh nghiệp (đặc biệt là ngành Bất động sản và Xây dựng): Tham khảo cơ chế định thời điểm thị trường và lựa chọn công cụ tài trợ (nợ vay hay phát hành cổ phần) phù hợp với từng pha biến động của chu kỳ kinh tế vĩ mô.
- Các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước: Tham khảo các bằng chứng thực nghiệm về phản ứng của doanh nghiệp trước các chính sách tiền tệ và thị trường vốn, phục vụ công tác thiết kế chính sách điều tiết vĩ mô và phát triển thị trường tài chính cân bằng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng các chỉ số kinh tế vĩ mô nào để xác định trạng thái kinh tế tốt và xấu?
Tác giả sử dụng hai chỉ số vĩ mô chính để lượng hóa trạng thái nền kinh tế:
- Chênh lệch kỳ hạn lãi suất (Term Spread - TERM): Hiệu số giữa lãi suất trái phiếu chính phủ dài hạn và ngắn hạn. Giá trị TERM cao đại diện cho điều kiện kinh tế tốt (mở rộng), giá trị thấp đại diện cho điều kiện xấu.
- Tỷ suất cổ tức thị trường (Market Dividend Yield - MDY): Giá trị MDY thấp đại diện cho thị trường định giá cao / điều kiện kinh tế tốt, giá trị MDY cao đại diện cho điều kiện xấu.
Tốc độ tăng trưởng GDP cũng được sử dụng làm biến kiểm soát vĩ mô.
2. Phương pháp kinh tế lượng chính được sử dụng trong luận án là gì và vì sao được lựa chọn?
Luận án sử dụng phương pháp mô-men tổng quát hệ thống (System Generalized Method of Moment - SGMM) hai bước trên phần mềm Stata 13. Phương pháp này được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc xử lý mô hình dữ liệu bảng động có biến phụ thuộc trễ ($LEV_{i,t-1}$), đồng thời kiểm soát hiệu quả hiện tượng nội sinh, phương sai thay đổi và tự tương quan trong chuỗi dữ liệu.
3. Kết quả thực nghiệm cho thấy tốc độ điều chỉnh đòn bẩy tài chính sổ sách và thị trường khác nhau như thế nào trong điều kiện vĩ mô tốt?
Kết quả cho thấy sự khác biệt tùy theo thước đo đòn bẩy:
- Đối với đòn bẩy sổ sách ($LEV_{ss}$), tốc độ điều chỉnh trong điều kiện vĩ mô tốt chậm hơn trong điều kiện vĩ mô xấu (khi đo bằng MDY), phản ánh rào cản trong tiếp cận vốn nợ trung dài hạn của doanh nghiệp.
- Đối với đòn bẩy thị trường ($LEV_{tt}$), tốc độ điều chỉnh trong điều kiện vĩ mô tốt nhanh hơn trong điều kiện vĩ mô xấu, do doanh nghiệp tận dụng được sự định giá tích cực của thị trường chứng khoán để huy động vốn cổ phần.
4. Luận án phân chia nhóm ngành nghiên cứu như thế nào và dựa trên cơ sở pháp lý/tiêu chuẩn nào?
Từ 17 ngành phi tài chính theo hệ thống phân loại của Vietstock (chuẩn NAICS 2007), luận án chia thành 2 nhóm:
- Nhóm ngành Bất động sản: Gồm 3 ngành (Bất động sản, Vật liệu xây dựng, Xây dựng), căn cứ theo Điều 107 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 54 Hiến pháp 2013.
- Nhóm ngành Sản xuất – Kinh doanh – Dịch vụ (SX-KD-DV): Gồm 14 ngành phi tài chính còn lại.
Kết luận
Luận án của tác giả Trần Thị Mười đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm toàn diện về tác động của các điều kiện kinh tế vĩ mô đến tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn động của các công ty niêm yết phi tài chính tại Việt Nam giai đoạn 2006–2015. Bằng việc ứng dụng phương pháp System GMM trên mô hình điều chỉnh từng phần tích hợp mở rộng, nghiên cứu chứng minh rằng trạng thái thị trường (đo lường qua tỷ suất cổ tức thị trường MDY) đóng vai trò quyết định đến tốc độ tái cân bằng đòn bẩy tài chính. Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự đối lập giữa việc tiếp cận nguồn vốn nợ trung dài hạn và kênh huy động vốn cổ phần, đồng thời làm rõ sự khác biệt về hành vi tài trợ của nhóm ngành Bất động sản so với các ngành sản xuất kinh doanh khác. Công trình mang lại hệ thống khuyến nghị thực tiễn có giá trị cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc tối ưu hóa quyết định cấu trúc vốn và các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc hoàn thiện thị trường vốn Việt Nam.