Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Xét về mặt lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội, KTHH đã có mầm mống từ trong xã hội nô lệ, hình thành trong xã hội phong kiến và được phát triển rộng rãi, đạt trình độ cao trong xã hội tư bản chủ nghĩa (TBCN), sản xuất và trao đổi hàng hoá chính là những tiền đề quan trọng ban đầu cho sự ra đời và phát triển KTTT. KTTT - một hình thức phát triển cao của KTHH giản đơn, một thuật ngữ xuất hiện gắn với sự ra đời và phát triển chủ nghĩa tư bản (CNTB) mà giai đoạn đầu có tên gọi là KTTT tự do. Trong lịch sử, vấn đề KTTT đã được nhiều tác giả bàn luận, có nhiều công trình quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin: C.Mác với tác phẩm "Tư bản", "Hàng hoá và tiền tệ" (1867); Ph.Ăngghen với tác phẩm "Chống Đuy Rinh" (1878); V. Lênin với tác phẩm "Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường" (1893); "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga" (1896-1899).
Trước các ông đã để lại nhiều tác phẩm của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển như Adam Smith, David Ricardo ở những năm cuối thế kỷ XVIII và đầu XIX; các nhà kinh tế học tư sản hiện đại như J.Keynes ở những năm 30 của thế kỷ XX và mới đây là lý thuyết kinh tế học của Paul A.Samuelson, David Begg… Tuy nhiên, nghiên cứu quá trình tác động của KTTT đối với nền quốc phòng, mặc dù đã và đang được các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước như ở CHDCND Lào, Cộng hoà XHCN Việt Nam… quan tâm, nhưng các công trình nghiên cứu lý thuyết có tính hệ thống về vấn đề này chưa xuất hiện nhiều. Để nêu rõ căn cứ xuất phát của các nghiên cứu trong luận án, xin trình bày một cách khái quát các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài. CÁC NGHIÊN CỨU CỦA CÁC NHÀ KINH TẾ HỌC TƯ SẢN CỔ ĐIỂN, CÁC NHÀ KINH ĐIỂN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, CÁC NHÀ KINH TẾ HỌC HIỆN ĐẠI VÀ CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU VIỆT NAM 1. Các nhà kinh tế học tư sản cổ điển Chủ nghĩa trọng thương ra đời và tồn tại ở Tây Âu vào giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVII, chiếm vị trí quan trọng và là nét nổi bật trong đời sống kinh tế các nước Tây Âu giai đoạn này.
Nó là hình thái đầu tiên của hệ tư tưởng kinh tế tư sản trong giai đoạn tích luỹ nguyên thuỷ tư bản nhằm chống lại tư tưởng kinh tế phong kiến và tìm nguồn gốc giàu có từ thương nghiệp, tuyệt đối hoá vai trò thương nghiệp, bảo vệ lợi ích của tư bản thương nghiệp. Điểm xuất phát của chủ nghĩa trọng thương là tiền: "Tiền là nội dung căn bản của của cải", là tài sản thật sự của một quốc gia. Một nước càng có nhiều tiền (vàng) thì càng giàu có. Còn "hàng hoá " chỉ là phương tiện làm tăng thêm khối lượng tiền tệ mà thôi.
Chủ nghĩa trọng thương cũng đề cao vai trò của nhà nước trong phát triển thương nghiệp. Theo Thomas Mun (1571-1614) là nhà kinh tế học Anh: "Thương mại là hòn đá thử vàng cho sự phồn thịnh của quốc gia, không có phép lạ nào khác để kiếm tiền trừ thương mại". Tiêu biểu lớn nhất là W.Petty (1623-1687) là nhà kinh tế học người Anh. Luận điểm của ông là: "Đất là mẹ, lao động là cha của của cải", "Giá trị hàng hoá chính là sự phản ánh giá trị của tiền tệ, cũng như ánh sáng của mặt trăng là sự phản chiếu của ánh sáng mặt trời".Petty được đánh giá cao là cha đẻ của kinh tế chính trị học [6, tr.
Mặc dù chủ nghĩa trọng thương có vai trò rất to lớn, nhưng cũng không tránh khỏi được mặt hạn chế. Về mặt tích cực: - Chủ nghĩa trọng thương là học thuyết kinh tế đầu tiên trong lịch sử, tiến bộ hơn hẳn so với tư tưởng kinh tế phong kiến và thuyết lý tôn giáo còn đang thịnh hành ở nhiều nước thời bấy giờ. 7 - Lần đầu tiên đưa ra quan điểm về sự giàu có là giá trị, là tiền. - Nêu quan điểm mục đích hoạt động của nền KTHH là lợi nhuận.
- Tư tưởng nhà nước can thiệp vào kinh tế về sau được kinh tế học hiện đại sử dụng. Về mặt hạn chế: - Học thuyết còn mang tính phiến diện, chỉ nghiên cứu quan hệ kinh tế trong lĩnh vực lưu thông, tuyệt đối hoá vai trò của lưu thông mà không quan tâm đến sản xuất, phân phối và tiêu dùng. - Những luận điểm của chủ nghĩa trọng thương mới dừng ở phân tích thực tiễn để đưa ra những lời khuyên về chính sách kinh tế, rất ít tính lý luận. - Chưa biết đến quy luật kinh tế.
Họ coi thương trường là chiến trường, người này được thì người kia mất, dân tộc này làm giàu thì dân tộc khác phải hy sinh. - Giá cả hàng hoá là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá trên thị trường. Như vậy, tiền tệ chính là sự phản ánh giá trị của hàng hoá, chứ không phải ngược lại như trong luận điểm của W. Học thuyết kinh tế của Adam Smith.
Adam Smith (1723-1790) là một nhà kinh tế chính trị học nổi tiếng thuộc trường phái cổ điển Anh. Học thuyết kinh tế của ông được thể hiện tập trung trong cuốn "Của cải của các dân tộc", xuất bản năm 1776. Ông đã có công trong phát triển phương pháp trừu tượng hoá trong nghiên cứu kinh tế chính trị, có nhiều đóng góp vào việc xây dựng các phạm trù, quy luật của KTTT và phân tích nền sản xuất TBCN.Samuelson: Adam Smith là nhà tiên tri của chủ nghĩa tự do kinh tế. Adam Smith là một nhà kinh tế học người Anh được Paul A.Samuelson- người đứng đầu trường phái chính hiện đại - coi ông là nhà tiên tri của chủ nghĩa tự do kinh tế.
Thật vậy, trước Adam Smith, tuy đã có các nhà kinh tế phân tích nền KTHH, nhưng lại đưa ra đề nghị phải dựa vào nhà nước để phát 8 triển kinh tế. Chủ nghĩa trọng thương thế kỷ XV - XVII cho rằng, để làm tăng của cải của một quốc gia, cần phải có sự giúp đỡ của nhà nước.Petty là "cha đẻ của kinh tế chính trị học", khi tìm giải pháp cho phát triển kinh tế đã rất coi trọng các quy luật kinh tế, cho rằng trong kinh tế cũng như trong y học, cần phải tính đến những quá trình tự nhiên, không nên dùng hành động cưỡng bức riêng của mình chống lại những quá trình đó. Cho đến cuối thế kỷ XVIII, tư tưởng tự do kinh tế mới trở thành một học thuyết. Người khởi xướng nó là Adam Smith.
Chủ nghĩa tự do kinh tế là một học thuyết phát triển trên quan điểm đề cao vai trò của cơ chế thị trường (CCTT), đề cao tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế. Theo Adam Smith: "Tiền là bánh xe vĩ đại của lưu thông", là "công cụ đặc biệt của trao đổi và thương mại". Lý luận về tiền tệ viết trong cuốn "Của cải của các dân tộc". Adam Smith đã chỉ rõ: - Tiền tệ ra đời là do yêu cầu của trao đổi hàng hoá.
- Tiền tệ (vàng, bạc, đồng) có các chức năng thước đo giá trị, phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán. - Với các chức năng trên, tiền trở thành phương tiện thúc đẩy lưu thông hàng hoá. - Tiền không chỉ là công cụ để thúc đẩy lưu thông hàng hoá trong nước, mà còn là phương tiện để thực hiện quan hệ xuất nhập khẩu, mở rộng lưu thông hàng hoá với nước ngoài, mở rộng thương mại quốc tế. Lý thuyết "Bàn tay vô hình" của Adam Smith thực chất là lý thuyết về CCTT tự điều tiết.
- Adam Smith khẳng định, nền kinh tế bình thường là nền kinh tế phát triển trên cơ sở tự do cạnh tranh, tự do mua bán và trao đổi. Đó là nền KTTT. Sự hoạt động của nền KTTT chịu sự chi phối bởi "Bàn tay vô hình". - "Bàn tay vô hình" là hệ thống các quy luật kinh tế khách quan tự phát hoạt động và chi phối hoạt động của con người, là một "trật tự tự nhiên".
9 - Để có sự hoạt động của trật tự tự nhiên, cần phải có những điều kiện nhất định đó là: i) Sự tồn tại và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá; ii) Nền kinh tế phải được phát triển trên cơ sở tự do kinh tế. Cần thiết phải có tự do sản xuất, tự do liên doanh, liên kết, tự do mậu dịch; iii) Trên cơ sở đó, hình thành mối quan hệ phụ thuộc vào nhau giữa người với người. Tóm lại, lý thuyết "Bàn tay vô hình" của Adam Smith đã đề cao vai trò của quy luật kinh tế khách quan trong điều tiết nền KTTT, đề cao tính độc lập, tự chủ, sáng tạo và tinh thần tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh của các chủ kinh tế. Coi thị trường tự do là lực lượng, sức mạnh điều tiết sản xuất và tiêu dùng của xã hội [6, tr.
Nước CHDCND Lào hiện nay đã chuyển sang vận hành nền kinh tế theo CCTT có sự quản lý của Nhà nước, phát triển theo định hướng XHCN, nhưng còn nhiều yếu tố sơ khai. Việc nghiên cứu học thuyết kinh tế nói chung, lý thuyết "Bàn tay vô hình" nói riêng của Adam Smith có ý nghĩa cung cấp một tri thức quan trọng về vai trò của CCTT trong điều tiết nền kinh tế. Trong cơ chế này, mọi việc lựa chọn sản xuất và việc tiêu dùng của các chủ thể kinh tế đều được thực hiện dưới tác động của quy luật kinh tế khách quan, theo mệnh lệnh của thị trường. CCTT là cơ chế điều chỉnh linh hoạt các nguồn lực trong nền kinh tế theo hướng hiệu quả, tự nó có thể tạo ra sự cân đối cung - cầu hàng hoá trên thị trường.
Bởi vậy, cần có nhận thức đúng vai trò của CCTT và có giải pháp để phát huy vai trò đó trong vận hành nền kinh tế nước ta hiện nay. Lý thuyết "Bàn tay vô hình" mới chỉ quan tâm đến mặt tích cực của thị trường, mà không thấy tác động tiêu cực hay thất bại mà tự nó không thể khắc phục được, nên đã tuyệt đối hoá vai trò của thị trường, phủ nhận vai trò kinh tế của nhà nước. Một bài học được rút ra qua việc nghiên cứu lý thuyết này là: cần có cách nhìn khách quan, khoa học về CCTT.