Mở đầu là cuộc “Cách mạng xanh” đã giải quyết cơ bản về vấn đề lương thực. Sau đó là “Cách mạng trắng” với phong trào sản xuất sữa và hiện tại nền nông nghiệp Ấn Độ đang thực hiện cuộc “Cách mạng nâu” đó là phát triển chăn nuôi trâu, bò. Hoạt động khuyến nông ở Việt Nam 2. Sự hình thành và phát triển khuyến nông ở Việt Nam Ở Việt Nam từ thời vua Hùng cách đây 2000 năm đã trực tiếp dạy dân làm nông nghiệp: Gieo hạt, cấy lúa, mở các cuộc thi để các hoàng tử, công chúa có cơ hội trổ tài.
Triều vua Lê Thái Tông triều đình đặt tên chức Hà Đê sứ và khuyến nông sứ đến cấp phủ huyện và từ năm 1492 mỗi xã có một xã trưởng phụ trách nông nghiệp và đê điều. Triều đình ban bố chiếu khuyến nông, chiếu lập đồn điền và lần đầu tiên sử dụng từ khuyến nông trong bộ luật Hồng Đức. Thời vua Quang Trung từ năm 1789 sau khi thắng giặc ngoại sâm ban bố ngay “chiếu khuyến nông” nhằm phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang. [4] Từ sau cách mạng tháng 8/1945 thành công Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp, Người kêu gọi quốc dân “tăng gia sản xuất”.
Ngày 2/3/1993 chính phủ ra nghị định 13/CP về công tác khuyến nông. Bắt đầu hình thành hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến địa phương. Ngày 18/7/ 2003 chính phủ ban hành Nghị định 86/NĐ-CP cho phép tách cục Khuyến nông - Khuyến lâm thành hai đơn vị đó là cục Nông nghiệp và Trung tâm khuyến nông quốc gia. Ngày 26/4/2005 chính phủ ban hành nghị định số 56/CP-NĐ về khuyến nông khuyến ngư.
Ngày 08/01/2010 chính phủ ra Nghị định 02/CP-NĐ về công tác khuyến nông thay thế cho nghị định số 56/2005/NĐ- CP về khuyến nông, khuyến ngư. Hệ thống tổ chức khuyến nông nhà nước ở Việt Nam Theo nghị định số 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông, ban hành ngày 08/01/2010. Hệ thống tổ chức khuyến nông được tổ chức như sau: n 14 a. Tổ chức khuyến nông Trung ương - Trung tâm Khuyến nông Quốc gia là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định. Tổ chức khuyến nông địa phương - Tổ chức khuyến nông địa phương được quy định như sau: + Ở cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) có trung tâm khuyến nông là đơn vị sự nghiệp công lập. + Ở cấp huyện (huyện, quận và thị xã, thành phố có sản xuất nông nghiệp thuộc cấp tỉnh) có trạm khuyến nông là đơn vị sự nghiệp công lập. + Ở cấp xã (xã, phường, thị trấn có sản xuất nông nghiệp) có khuyến nông viên với số lượng ít nhất là 02 khuyến nông viên ở các xã thuộc địa bàn khó khăn, ít nhất 01 khuyến nông viên cho các xã còn lại.
+ Ở thôn (thôn, bản, ấp, phum, sóc) có cộng tác viên khuyến nông và câu lạc bộ khuyến nông. - Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức khuyến nông địa phương do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định. Tổ chức khuyến nông khác - Tổ chức khuyến nông khác bao gồm các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức khoa học, giáo dục đào tạo, hiệp hội, hội nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có tham gia hoạt động khuyến nông trên lãnh thổ Việt Nam. - Tổ chức khuyến nông khác thực hiện các nội dung hoạt động khuyến nông theo quy định của Nghị định này và các quy định pháp luật liên quan.
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức khuyến nông khác thuộc tổ chức, cá nhân nào do tổ chức, cá nhân đó quy định.3 Vấn đề di dân tái định cư thủy điện ở việt nam Chủ trương của Đảng và các chính sách của Nhà nước liên quan đến tái định cư ở Việt Nam. Hiện tại Việt nam chưa có các quy định cụ thể và thống nhất về di dân - tái định cư nói chung và triển khai thực hiện công tác này. Các kế hoạch di dân tái định cư thường được xây dựng tùy theo điều kiện cụ thể của dự án và khả năng của nhà đầu tư. Tuy nhiên, chủ trương, chính sách của Đảng cũng khẳng định tất cả các phương án tái định cư đều phải đảm bảo “bảo đảm cho người dân có cuộc sống nơi ở mới tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ” Trước năm 1993, Nhà nước có thể thu hồi đất mà không đền bù gì hoặc chỉ đền bù cho chính quyền địa phương hoặc tổ chức tập thể đã được cấp đất.
Cơ sở pháp lý cho chính sách tái định cư dần dần được hình thành với sự ra đời của Hiến pháp năm 1992 và Luật Đất đai năm 1993, kèm theo đó là hướng dẫn thực hiện trong Nghị định 22/1998/NĐ-CP, cùng với những cải thiện trong Luật Đất đai năm 2003. Cho đến nay, luật đã quy định là phải đền bù những thiệt hại về đất và các tài sản kèm theo đất. Các biện pháp hỗ trợ ổn định mức sống của những đối tượng bị ảnh hưởng đã được đưa ra với nguyên tắc chung là nơi tái định cư phải có điều kiện sống ít nhất là ngang bằng hoặc tốt hơn. Dưới đây là tóm tắt một số văn bản pháp luật về tài nguyên thiên nhiên, đất đai và các chính sách liên quan đến đền bù, TĐC từ năm 1993.
- Luật Đất đai 1993. - Nghị định 90/NĐ-CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ về quy định đền bù những thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất. - Nghị định 87/NĐ-CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ về giá đất. - Nghị định 17/NĐ-CP ngày 21/3/1998 điều chỉnh Phần 2, Điều 4 của Nghị định 87/CP về quy định khung giá các loại đất.
- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, bao gồm cả đất thu hồi cho các dự án phát triển. Đây là cơ sở pháp lý để xây dựng chính sách (cả tạm thời và chính thức) cho việc triển khai công tác tái n 16 định cư ở các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi trên cả nước. - Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiện Luật Đất đai. - Nghị định 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 188/2004/NĐ-CP, hướng dẫn phương pháp xác định giá đất và tổ chức thực hiện. - Nghị định 197/2004/NĐ-CP về đền bù, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. - Quyết định 459/QĐ-TTg ngày 12/5/2004 của Thủ tướng Chính phủ qui định về bồi thường di dân, tái định cư dự án thuỷ điện Sơn La. - Quyết định số 02/2007/QĐ - TTG ngày 09/01/2007 của thủ tướng chính phủ về việc ban hành quy định bồi thường và hỗ trợ định cư dư án thủy điện sơn la 2.4 Vấn đề di dân tái định cư thủy điện tại tỉnh điện biên Điện biên là một tỉnh nằm trên địa bàn có nhiều thủy điện lớn được xây dựng.
Các công trình thủy điện tác động không ít đến tình hình kinh tế và xã hội của tỉnh. Thực hiện các chủ chương chính sách quả Đảng và nước kết hợp với ổn định tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tỉnh Điện Biên rất quan tâm và chú trọng đến công cuộc di dân - tái định cư ổn định cho cuộc sông của người dân tái định cư thủy điện. Dưới đây là tóm tắt một số văn bản được tình điện biên ban hành về vấn đề đi dân - tái định cư. - Quyết định số 02/2007/QĐ-UBND ngày 22 thang 06 năm 2007 của UBND tỉnh Điện Biên về việc ban hành quy định cụ thể một số điều về bồi thường hỗ trợ và tái định cư dự án thủy điện Sơn La.
n 17 Phần 3 ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu - Các chương trình, dự án, hoạt động khuyến nông được triển khai thực hiện trên địa bàn xã Lay Nưa có người dân tái định cư tham gia. - Các hoạt động sinh kế của người dân tái định cư thủy điện Sơn La tại xã Lay Nưa.
Phạm vi nghiên cứu - 4 bản (bản Bắc I, Bắc II, bản Ổ, bản Naka) tái định cư thủy điện Sơn La 3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 3. Địa điểm nghiên cứu - Địa điểm thực hiện đề tài: Tại xã Lay Nưa - thị xã Mường Lay - Tỉnh Điện Biên.2 Thời gian nghiên cứu - Từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 đến ngày 30 tháng 05 năm 2015 3. Nội dung nghiên cứu 3.
Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Lay Nưa 3. Các hoạt động SK của người dân tái định cư thủy điện Sơn La trước và sau khi chuyển đến xã Lay Nưa - thị xã Mường Lay - tỉnh Điện Biên Hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản ) Hoạt động thương mại dịch vụ. Hoạt động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Các hoạt động KN được triển khai thực hiện trên địa bàn xã Lay Nưa có người dân tái định cư tham gia 3.
Sự thay đổi của các hộ dân tái định cư khi tham gia các hoạt động KN tại xã Lay Nưa so với nơi ở cũ 3. Tìm hiểu vai trò của KN đối với sinh kế của người dân tái định cư 3. Đưa ra các tác động của KN đến người dân tái định cư thủy điện Sơn La tại xã Lay Nưa - thị xã Mường Lay - Tỉnh Điện Biên n 18 3. Phƣơng pháp nghiên cứu 3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp Tìm hiểu các báo cáo của KN địa phương và báo cáo của xã.
Kết hợp với đọc các tài liệu như: Sách báo, internet, các đề tài nghiên cứu có liên quan. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp. Quan sát trực tiếp: Quan sát các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân tái định cư. Phỏng vấn bằng bảng hỏi.
Điạ điể m ph ỏng vấn: Xã Lay Nưa - thị xã Mường Lay Số phiế u phỏng vấn: 62 phiế u.