CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE MÔ HÌNH TO LIÊN KET SAN XUẤT 1. Những khái niệm cơ bản : 1. Các khái niệm , thuật ngữ chung: Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm.
Dựa trên những số liệu, tải liệu, kiến thức,. đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa học dé phát hiện ra những cai mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con người muốn làm nghiên cứu khoa học phải có kiến thức nhất định về lãnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường. Khái niệm tổ chức : + ‘‘ Theo ngôn ngữ thông thường, tổ chức được xem như tập hợp của nhiều người, nhiều nhóm người nhằm thực hiện một mục tiêu chung mà nếu chỉ một người hay một nhóm người không thực hiện được.
+ Theo ngôn ngữ khoa học thì t6 chức là một thực thé xã hội do các cá nhân hoặc các nhóm kết hợp dé thực hiện mục tiêu chung có 3 đặc trưng cơ bản ngang nhau : 1. Tổ chức được tạo ra nhằm thực hiện các mục tiêu chung của cộng dong ; 2. Có cấu trúc phân công lao động nghĩa là mọi người tham gia tổ chức không phải đều được nhận việc như nhau mà được giao những việc phù hợp với yêu cẩu cua tổ chức, trình độ và năng lực cá nhân. Tổ chức càng phát triển thì phân công lao động càng triệt để ; 3.
Có một ban quản ly. Ban quản lý có bổn phận đại diện cho công dong với công việc điều phối và thực hiện mục tiêu của tổ chức '*[4 :1] Khái niệm liên kết hay hoà nhập nói lên sự kết hợp thích ứng với nhau giữa các yếu tố cầu thành một hệ thống, cho phép các yêu tố đó tạo thành một chỉnh thê cân đôi. Khái niệm tổ hợp tác Theo định nghĩa của FAO (1993) thì “nhóm sở thích (có nơi gọi là tổ hợp tắc) trong nông nghiệp nông thôn” là tập hợp những người dân, hộ gia đình, hoặc bộ tộc sống chung trong cộng đồng địa phương, có kiến thức, tâm huyết — say mê các hoạt động về kinh tế xã hội ở cơ sở; tình nguyện tham gia thực hiện vì mục tiêu lợi nhuận và phi lợi nhuận, sẵn sàng làm nòng cốt thúc đây các hoạt động đó vì sự tiến bộ an sinh xã hội, hoặc vì nâng cao hiệu quả sản xuất, hoặc vì hợp tác với nhau dé tìm phương pháp mưu sinh bền vững bằng cách lồng ghép các hoạt động sản xuất nông nghiệp với các dịch vụ trong nông thôn đề, trước mắt đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, sau đó nhằm tạo ra sự phát triển bền vững trên quê hương minh. Tổ hợp tác là hình thức tổ chức của xã hội dân sự, người dân thành lập tổ giải quyết các nhu cầu sản xuất, đời song theo hướng thoả thuận dan sự, là đầu mối liên kết với chính quyền cơ sở, đối tác của các chương trình dự án cộng đồng, là khách hàng của các doanh nghiệp, nhà cung cấp hàng hoá, nơi thực hiện công tác vận động xã hội, xây dựng cụm, dân cư, làng bản văn hoá,.
Tổ hợp tác hoạt động theo Điều 111 đến 120 của Bộ Luật Dân sự năm 2005: “Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thi tran của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức dé thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự” Nghị định 151/2007/NĐ-CP và Thông tư 04/2008/TT-BKH hướng dẫn tổ chức, hoạt động của t6 hợp tác với những đặc điểm cơ bản: Tổ hợp tác do các cá nhân tự nguyên thành lập, là một loại hình của kinh tế tập thể, của tô chức xã hội dân sự số lượng thành viên tối thiểu là 3 người, UBND cấp xã chứng thực hợp đồng hợp tác; tổ hợp tác không phải là pháp nhân, hoạt động vì mục đích kinh tế, xã hội, sở thích nhóm không trái với pháp luật. Tổ hợp tác không phải là pháp nhân kinh doanh, “không là cấp dưới” của UBND xã, hay tổ trưởng dân phó, trưởng thôn, của Ban quản lý chương trình dự án đo vậy mối quan hệ là hợp tác,hýớng dẫn ðúng ngýời ðúng việc; một số công việc nhiều tổ làm được có thé luân phiên giữa các tô hoặc bỏ thầu chọn tô làm tốt nhất. Các tổ hợp tác hoạt động với tinh thần tự nguyện, mỗi thành viên có trách nhiệm theo hợp đồng, theo thoả thuận cùng có lợi, do vậy các tranh chấp cần được ngăn chặn và xử lý kịp thời để giữ tình đoàn kết. Hoạt động của tổ hợp tác ngoài các mục tiêu về kinh tế đối với tổ hợp tác làm kinh tế, các loại hình tổ hợp tác đều lấy tôn chỉ mục tiêu phát triển cộng đồng, hoạt động xã hội tương trợ, giúp đỡ đời sống tinh thần đến từng cá nhân và gia đình với ý nghĩa nhân văn.
Khái niệm về Hop tác xã Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này dé phát huy sức mạnh tập thé của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ va các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật. HTX là phương thức tất yếu trong lao động sản xuất và các hoạt động kinh tẾ, gắn liền với sự phát triển kinh tế và bị ràng buộc vả qui định bởi sự tiến triển trong quá trình xã hội hoá của hoạt động kinh tế của con người và phải thích ứng với tiễn trình phát triển kinh tế đó. HTX phải tạo ra xung lực tăng năng suất lao động và đạt hiệu quả kinh tẾ cao.
HTX là hình thức thực hiện các quá trình hợp tác trong hoạt động kinh té. Mục tiêu của HTX là phat triển được sức san xuất xã hội, tiết kiệm lao động, 10 tăng hiệu quả kinh tế, phải thích hợp với các mối quan hệ kinh tế mới trong điều kiện mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất sớm, có thể là người Việt Nam đầu tiên, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hợp tác xã và truyền bá vào nước ta, trong tác phẩm "Đường kách mệnh" viết vào năm 1927. "Hợp tác xã" trong "Đường kách mệnh" là tác phâm lý luận điển hình, mẫu mực về HTX, 1a biéu hiện sinh động của sự gặp gỡ giữa văn minh phương Đông nói chung va văn hoá Việt Nam nói riêng và phương Tây, từ đó tạo ra Tư tưởng Hồ Chí Minh về HTX.
Chủ tịch Hồ Chi Minh đã đúc rút lý luận và kinh nghiệm hop tác xã của thé giới, điển hình là Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật. Quan niệm của Hồ Chí Minh về HTX lúc đó rất đúng với nhận thức của quốc tế, trước hết là Liên minh HTX quốc tế, Tổ chức Lao động thé giới và các nước hiện nay về HTX, về bản chất, giá trị và nguyên tắc, cách thức tổ chức HTX. Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày các quan niệm về HTX một cách hệ thống, với ngôn ngữ dung di, dé hiểu, và đặc biệt rất ngắn gon, ai đọc cũng có thể hiểu được. Giải thích về bản chất hợp tác xã, Người viết: Hạt nhân, trung tâm của HTX là xã viên; xã viên hợp tác với nhau dé có lợi ích thiết thực và vẫn duy trì tính độc lập của mình; xã viên là chủ đích thực của hợp tác xã, là mục tiêu mà HTX phải phục vụ; HTX là phương tiện dé phuc vu xã viên, phải đảm bao dem lại lợi ích cho xã viên- thực là "hợp tác xã là nha, xã viên là chủ".
Để trả lời câu hỏi "tại sao người ta cần phải tham gia hợp tác xã", Bác Hồ đã đưa ra một ví dụ cụ thê chứng minh, theo đó: người sản xuất, nhất là nông dân được chia sẻ lợi ích phát sinh cả trong quá trình trao đổi, tiêu thụ sản phẩm, tạo tiết kiệm cho xã hội thông qua giảm chỉ phí trung gian, tạo lợi ích cho người tiêu dùng cuối cùng thông qua giá rẻ. 11 Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII đã bước đầu đề ra mô hình HTX tiêu dùng theo chuẩn mực quốc tế (Xã viên vừa là đồng sở hữu vừa đồng sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX). Cụ thể: ở nông thôn, trên cơ sở tăng cường vai trò đơn vị kinh tế tự chủ của hộ xã viên, các HTX hướng hoạt động vào những khâu và lĩnh vực mà hộ xã: viên không có điều kiện tự làm hoặc làm kém hiệu quả hơn kinh doanh tập thé. Trong nông nghiệp, trên cơ sở phát huy tính tự chủ của hộ gia đình, chú trọng phát triển các hình thức hợp tác và HTX cung cấp dịch vụ, vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho kinh tế hộ gia đình và trang trại".
Tuy nhiên, chủ trương này chưa được thể chế hoá trong Luật Hợp tác xã năm 1996 và Luật Hợp tác xã năm 2003. Ngày nay, ở một số nước như: Đan Mạch, Hà Lan, Na uy- là những nước có khu vực HTX mạnh và có phong trào HTX từ lâu và khá sớm trên thế giới, nhưng vẫn chưa có Luật về hợp tác xã. Ngay ở nước ta, mặc dù khung pháp luật chưa day đủ, tổ hợp tác mà bản chat là HTX, trong những năm gan đây, van phát triên rât mạnh mẽ. Thực tế này cho thấy, khi tư tưởng về HTX thấm sâu vào xã hội, nhân dân và các tô chức, khi đó nó trở thành sức mạnh vật chất đây phong trào HTX lên, ngay cả khi chưa có đầy đủ khung pháp luật về hợp tác xã.Xây dựng mô hình tổ hợp tác 1.Nội dung của việc xây dựng mô hình tổ hợp tác.