chương 1, tác giả đã tong hợp các công trình nghiên cứu tiêu biểu trước đây về việc áp dụng kế toán quản trị môi trường trong doanh nghiệp, bao gồm công trình nghiên cứu nước ngoài và công trình nghiên cứu trong nước. Trên cơ sở đó, tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu của đề tài để từ đó nhìn nhận rõ hơn về đề tài và hoàn thiện các nội dung tiếp theo hoàn chỉnh và tốt hơn. 25 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE KE TOÁN QUAN TRI MOI TRƯỜNG 2. Khái niệm về kế toán quản trị môi trường Kế toán môi trường (EA) ra đời như một yếu tố không thé thiếu dé đáp ứng nhu cầu thông tin về tác động môi trường trong môi trường kinh doanh của mọi DN, cả từ 2 góc độ, bao gồm: góc độ lý thuyết và góc độ thực tế.
KTMT chính là một sự tiễn hóa từ kế toán truyền thống, đồng thời nó liên quan đến việc thu thập, xử lý và phân tích thông tin về môi trường cụ thể của DN. KTMT không chỉ tập trung vào việc ghi nhận hoạt động môi trường của DN, mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho cả bên trong và bên ngoài của tổ chức, giúp họ đưa ra quyết định kinh tế một cách hiệu quả và thông minh. Hệ thống KTMT (EA) trong lĩnh vực DN gồm ba phần chính: kế toán quản trị môi trường (EMA); kế toán tài chính môi trường (EFA) và kế toán chi phí môi trường (ECA). Do áp lực toàn cầu ngày càng tăng và sự quan tâm đến các vấn đề môi trường trong hai thập kỷ qua, kế toán quản trị môi trường (EMA) đã nổi lên như một kỹ thuật mới trong lĩnh vực kế toán nhằm cung cấp thông tin liên quan đến các vấn đề môi trường cho nhiều bên khác nhau.
EMA là một công cụ quan trọng có thể giúp giảm thiểu tác động đến môi trường và cải thiện hiệu quả hoạt động môi trường của các tô chức cũng như đạt được sự bền vững. Birkin (1996) cho rằng "Kế toán quản trị môi trường là sự phát triển tiếp theo của kế toán quản trị"!. Theo Bennett và James (1997), "Kế toán quản trị môi trường có thé nhìn nhận như kế toán quản trị có liên quan đến các van đề môi trường"”. Phát triển thêm nhận định này, UNDSD (2001) lại tiếp tục khăng định "Kế toán quản trị môi trường là một sự hiểu biết tốt hơn và đúng đắn hơn về kế toán quan trị".
Như vậy có thể chốt lại rằng, xét trong mối quan hệ với hệ thống kế toán hiện có tại doanh nghiệp, EMA là một bộ phận của kế toán môi trường (KTMT) và là phần mở rộng và phát triển tiếp theo của KTQT nhằm giúp cải thiện hệ thống KTMT. Tùy thuộc vào mục đích, phạm vi hay đối tượng nghiên cứu khác nhau; mà EMA sẽ có nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau. Nhìn chung, EMA là hệ thống thông tin ! Birkin, E. (1998) Making Environmental Management Count, in Bennett, M.), The Green Bottom Line: Environmental Accounting for Management--- Current Practice and Future Trends, Greenleaf Publishing, pp.295-309, 3 UNDSD (2001), Environmental Management Accounting: Procedures and Principles, United Nations Division for Sustainable Development, United Nations, New York, NY 26 bồ sung cho KTQT dé khắc phục những hạn chế của KTQT thông thường nhằm hiểu rõ hơn và lượng hóa các vấn đề liên quan đến môi trường cho quá trình ra quyết định.
Theo Bouma và cộng sự (2003), EMA đề cập đến hệ thống kế toán và các kỹ thuật cung cấp cho nhà quản trị các thông tin tài chính và phi tài chính về tổ chức và môi trường“ Môi trường đang trở thành vấn đề thời sự có tính chất toàn cầu. Liên đoàn Kế toán quốc tế (IAFC, 2005) cho rằng: “KTQTMT là quản lý hoạt động kinh tế và môi trường thông qua việc triển khai và thực hiện hệ thống kế toán và hoạt động thực tiễn phù hợp có liên quan đến van dé môi trường. Trong khi điều này có thé bao gồm các báo cáo và kiểm toán tại một số công ty thì KTQTMT thường liên quan đến chi phí vòng đời, kế toán chỉ phí đầy đủ, đánh giá lợi ích và lập kế hoạch chiến lược quản lý môi trường”5. Môi trường được coi là van đề cốt lõi trong phát triển bền vững.
Kế toán bền vững trở thành mục tiêu chính của các tổ chức thông qua phát triển hệ thống kế toán truyền thống, bao gồm việc phát triển kế toán quản trị, trong đó bao gồm kế toán quản trị môi trường (Schaltegger và cộng sự, 2006). EMA là một lĩnh vực kế toán tiếp cận việc quản lý thông tin môi trường của doanh nghiệp bằng cách sử dụng các công cụ và thông lệ kế toán dé hỗ trợ việc ra quyết định quản lý nội bộ của công ty về các vấn đề môi trường và tác động của chúng đến hiệu quả hoạt động của công ty ° (Schaltegger, Bennett, Burritt và Jasch, 2010, trang 2) Bennett, Schaltegger và Zvezdov (2013) đã mô tả EMA là một công cụ theo dõi và theo đõi các chi phí liên quan đến môi trường thường bị ân đưới chi phí chung. Nó cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà quản ly dé xác định các cơ hội trong công ty của họ bằng cách tính toán chính xác và phân bồ lại chi phí cho các sản phẩm và quy trình có liên quan, từ đó cho phép xác định các quy trình kém hiệu quả với tác động môi trường cao.” Sau khi tìm hiểu và nghiên cứu về khái niệm kế toán quản trị môi trường mà các chuyên gia đưa ra, tác giả có thé chốt lại rang: Kế toán quản trị môi trường (EMA)là + Bouma, J. and van der Veen, M.
(2003) Wanted: A Theory for Environmental Management Accounting, in Bennett, M.), Environmental Management Accounting: Informational and Institutional Developments, Kluwer Academic Publishers, pp. International Guidance Document: EMA. International Federation of Accountants, New York 5 Schaltegger, S. Eco-efficiency in industry and science.
Environmental Management Accounting for Cleaner Production (Sth ed. Springer Science and Business Media. Exploring Corporate Practices in Management Accounting for Sustainability [online], 1-56. Available at: http://www.
27 một bộ phận của kế toán môi trường (EA) và là sự phát triển của kế toán quản trị (KTQT); góp phần nhận dạng, thu thập, phân tích và cung cấp các thông tin liên quan đến môi trường: đóng một vai trò quan trọng trong việc tính toán nội bộ và ra quyết định kinh tế đối với nhà quản trị doanh nghiệp. Từ đó không chỉ mang lại lợi ích kinh tế và góp phần phát triển kế toán bền vững của DN mà còn làm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường đang diễn ra. Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị môi trường Kế toán môi trường đã ra đời và phát triển cho đến nay bắt nguồn từ một số yêu cầu báo cáo thông tin liên quan đến môi trường vào những năm 1970 bao gồm: thông tin về giảm thiểu ô nhiễm môi trường và thông tin về chi phí xử lý được ban hành tại Mỹ (Freedman va Jaggi, 1981). Theo Ullman (1976), đối với việc đánh giá tác động của môi trường đối với hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp, thì hệ thống kế toán môi trường đóng một vai trò vô cùng quan trọngŠ.
Sự phát triển của EA chính là tiền đề cho sự phát triển của EMA. Theo Todea et al (2010) thi sự phát triển của kế toán môi trường có thể chia thành 4 giai đoạn: - Giai đoạn 1: Giai đoạn 1971 - 1987 Nền kinh tế Mỹ và Châu Âu trong những năm 1970 đã chịu những tác động về môi trường gây ra; chính vì lý do đó chính phủ đã có những nỗ lực đầu tiên dé đưa thông tin môi trường vào kế toán và điều này đã đặt nền móng cho việc ra đời của kế toán môi trường và EMA (Bauer và Fenn, 1973; Ullmann, 1976). Kế toán môi trường trong giai đoạn này đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, các lý thuyết đầu tiên trong giai đoạn này chưa có sự tách biệt giữa hai lĩnh vực đó là: lĩnh vực kế toán môi trường và kế toán xã hội.
Mãi sau đó, cho đến những năm 80 của thế kỷ 20, các nghiên cứu đã bắt đầu có sự phân biệt rõ ràng giữa hai loại kế toán: kế toán môi trường & kế toán xã hội; các nghiên cứu về kế toán môi trường cũng được báo cáo nhiều hơn so với các nghiên cứu về kế toán xã hội. Tuy nhiên trong giai đoạn này thì vẫn chưa có sự rõ ràng về khái niệm kê toán môi trường (Gray và cộng 8 Ullman (1976), The corporate environmental accounting system: A management tool forfighting environmental degradation, Journal of Cleaner Production, 11, https://doi. Sách kế toán viết cả khía cạnh xã hội và môi trường cũng bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn này; tuy nhiên chưa có sự tách biệt rõ ràng và mạch lạc giữa kế toán môi trường và kế toán quản trị môi trường. Sách về kế toán môi trường cũng như các quy định của Luật pháp về môi trường trong giai đoạn này cũng được xuất bản rất ít - Giai đoạn 2: Giai đoạn 1988 - 1994 Thảm họa tràn dầu Exxon - Valdez năm 1989 là một sự kiện gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và nhận được rất nhiều sự quan tâm.
Chính sự kiện đó đã khiến cho vấn đề về môi trường được quan tâm nhiều hơn, báo cáo nghiên cứu về vấn dé môi trường và kế toán môi trường bắt dau lấy lại vị thế của mình trong nền kinh tế (Gray, 2005) Kế toán môi trường (EA) vào đầu những năm 1990 đã bắt đầu có những nghiên cứu được thực hiện về việc hạch toán chỉ phí, tiết kiệm chỉ phí và doanh thu liên quan đến sản xuất và tái chế chất thải mặc dù kế toán môi trường trong giai đoạn này không được thực hiện trong khuôn khổ kế toán của doanh nghiệp. Sự gia tăng chú ý của xã hội về môi trường nhằm mục đích phát triển bền vững đã làm cho vấn đề kế toán môi trường trong giai đoạn này trở thành chủ đề bàn luận khá nhiều. Vấn đề kế toán môi trường được các nhà quản trị và kế cả kế toán viên bắt đầu quan tâm nhiều hơn. Các luật lệ về kế toán môi trường đã có sự phát triển nhanh hơn so với luật lệ về kế toán xã hội, tuy nhiên vẫn còn phát triển chậm mặc dù đã có một số sách và bài báo về lĩnh vực này.
- Giai đoạn 3: Giai đoạn 1995 - 2001 Một trong những nhiệm vụ chính của kế toán môi trường đó là việc hạch toán chi phí môi trường và điều này đã được chỉ ra trong nhiều nghiên cứu°(Gray và cộng sự, 1995).